Ông hiệp sĩ da đỏ hay là nền giáo dục của người da đỏ

05-09-2007 14:23

 

 

Đã hơn 70 năm nay, ngày mà ông José nói với tôi: “Con không phải là người da trắng, mà con là con người da đỏ”. Câu đó tôi vẫn nhớ như ông vừa mới nói với tôi hôm qua. José, một người tù trưởng của bộ lạc Piute, là một nhà hiền triết. Chính ông đã dạy tôi ăn nói, hành động và tư tưởng như một người Piute. Ông đã hun đúc cho tôi một căn bản giáo dục trong thời kỳ tôi còn niên thiếu.

 

Ông José và gia đình tôi bắt đầu giao thiệp với nhau trong mùa đông 1865. Một buổi chiều đó, ông José, rét mướt và đói, gõ cữa trang trại của cha tôi gần Bishop, tại tiểu bang California. Cha tôi đã từng quen biết vị tù trưởng can đảm này. Sau khi bại trận tại Fishlake Walley, chính phủ Mỹ đưa bộ lạc của ông lên lưu trú trong một khu vực cấm ở trung tâm California. Ông liền trốn khỏi nơi đó và cuốc bộ hơn 240km giữa núi rừng hoang vu để trở về nơi chôn nhau cắt rốn.

 

Bữa sau ông hướng dẫn một đoàn nông dân của cha tôi, với quần áo lạnh và thức ăn, về một chốn hoang vu đầy băng tuyết, cho vợ ông là bà Susie và hai đứa con sinh đôi của ông ăn, vì trong lúc trốn thoát khỏi khu vực cấm, bà Susie yếu quá đi không nổi, nên ông José mới đưa bà vào nằm trong một ổ lá, dưới cây cổ thụ giữa một đèo vắng. Họ võng bà Susie và một trong hai đứa con sinh đôi, đứa kia đã bị chết vì lạnh. Bà Susie đã bị liệt nửa người, mấy ngón tay chân đều tê cứng.

 

Vì chính phủ không có lệnh truy nã mấy người da đỏ thoát ly khu vực cấm, nên mẹ tôi nuôi dưỡng bà Susie tại trang trại. Để tỏ sự biết ơn của mình, ông tù trưởng mới cải họ của mình là José, theo tên của cha tôi, và từ đó thành một lão bộc trung thành. Mấy người khác trong bộ tộc trốn thoát được chở về cùng thì ông lựa mấy người giỏi giang để chăm sóc gia súc của trại.

 

Khi tôi chào đời nhằm năm 1872, thì ông bà José và các con, ở tại phần đất mà cha tôi chia cho mấy gia đình bộ lạc Piute làm công với cha tôi. Liền sau khi sinh tôi ra, người Piute nhận tôi là người của họ.

 

Được bốn tháng, tôi lâm bệnh nặng và thầy thuốc bảo rằng: “Nếu nó còn ọc sữa nữa, thì vô phương trị”.

 

Bữa trưa đó, cha mẹ tôi bắt gặp bà Susie ngồi trên ghế xích đu của mẹ tôi, một bên vú là một cậu bé da đỏ mập mạp còn vú bên kia là một cậu bé da trắng ốm xanh mét. Bà Susie đã cho tôi uống một chén thuốc từ rễ cây và vỏ cây rừng sắc ra. Lần đầu tiên từ mấy tháng nay, tôi không ọc sữa nữa.

 

Mẹ tôi mời bà Susie lên nhà lớn ở để cho tôi bú ghép. Ông José nói liền : “Nó phải ở chòi”. Và cho dù cha mẹ tôi có nói cách nào, ông cũng không lay chuyển. Nếu muốn bà Susie cứu tôi, thì phải để cho tôi sống ngoài chòi, trong một thời gian khá lâu, để cho ông José có đủ thì giờ luyện cơ thể tôi cho cứng rắn, theo phương thức da đỏ.

 

Bởi vậy, trong thời gian 18 tháng, tôi sống ở chòi mà ông José đã dựng cách nhà cha mẹ tôi chừng 50m.

 

Khi tôi lớn mạnh và trở về nhà, thì ông bà José cũng trở về miếng đất con con của ông, nhưng tôi vẫn dưới quyền của ông José. Vì từ khi bà Susie cứu tôi thì ông José coi tôi như một người da đỏ. Và ông có ý tạo tôi thành một người Piute giỏi giang như anh Dave, con ông. Và từ đó, ông dạy dỗ hai anh em tôi một lượt, và ông gắt với anh Dave cũng như ông gắt với tôi.

 

Có lẽ tay chân tôi vụng về hơn các anh Piute vì ông José thường hay nhằn tôi và không được hài lòng khi thấy tôi phải khó nhọc để làm một cái bẫy chim, làm một cái lưỡi câu bằng gai xương rồng hay đan lông đuôi ngựa để làm vòng bắt thỏ. Nhưng ông cũng rất khôi hài và tôi cũng thường nghe giọng cười mũi của ông, khi tôi trượt trên cục đá gập ghềnh mà ông xen lẫn trong mấy cục đá khác để tập tôi cách qua sông trên đá hàng.

 

Theo ông José, thì mấy đức tính căn bản là sự kham khổ và nhẫn nại. Ít có đứa con nít da trắng nào được huấn luyện gắt gao về sự nhẫn nại như anh Dave và tôi. Ông bắt chúng tôi đứng chết cứng như tượng đá, bên bờ sông, tay giơ cao ngọn lao lên, mũi lao có ngạnh chúc xuống, để chờ cá lội ngang đúng tầm mà phóng. Nếu chúng tôi mỏi tay hạ xuống, hay hơi nhúc nhích làm cho cá hoảng sợ, hay là phóng lao sớm quá thì ông lầm bầm mắng chúng tôi, và quất chúng tôi vài roi. Nhiều khi tức quá, tôi dậm chân la khóc, thì ông lãnh đạm nhìn tôi. Mặt ông lúc đó lạnh như đồng. Cặp mắt ông thường rất sắc, bây giờ không chớp nữa, và trở nên mờ đục. Cách sửa trị đó rất công hiệu.

 

Trang trại của chúng tôi ở phía tây thì có những rừng và suối, núi, tuyết còn ở phía đông thì là sa mạc khô cháy, đấy là những sân vận động hoàn toàn để chúng tôi tập thể dục. Để tăng cường thêm sức lực và sự bền bỉ của chúng tôi, chạy lên và chạy xuống hết tốc lực trên mấy triền núi đá hay vách cát, đầy những tuyết hay bụi cây.

 

Ông không cho chúng tôi lùi bước trước sự gian khổ vì ông cho rằng chỉ có sự để ý đến nó, là đã khuyến khích nó rồi. Khi chúng tôi đi trong sa mạc và sự nóng khát đã làm cho lưỡi của tôi sưng vù, thì ông José nhằn tôi: Con cứ nghĩ tới sự uống nước hoài, dở lắm!.

 

Nhưng tôi ít thấy ai dễ thương như ông José khi băng bó vết thương hay để an ủi.

 

Ông chỉ trích gắt gao cách săn bắn của chúng tôi. Hồi mới 12 tuổi mà ông muốn chúng tôi ghim mũi tên vào mình con hươu đang phóng nước đại. Sau này, chúng tôi tập dùng súng trường hay súng lục theo kiểu người da đỏ dùng cung tên, nghĩa là không dùng khe và đầu ruồi để nhắm, mà lại như cái máy ước chừng rồi bắn. Sở dĩ mà tôi trở thành một tay thiện xạ với cây súng lục còn đeo bên đùi, là nhờ sự luyện tập đó, và cách bắn này làm cho người ta làm lạ lắm khi tôi giữ chức cảnh sát trưởng tại nơi ác liệt Golfield. Đối với ông José, sự can đảm không phải là một đức tính mà thôi, mà lại là một nhu cầu. Ông quả quyết rằng, sự sợ hãi bộc lộ ra ngoài thì sẽ đem lại cái hại to.

 

Ông thường nói: Nếu con cứ ngó thẳng vào mắt địch thủ con, thì không khi nào con bị hại.

 

Cái ý kiến đó đối với anh Dave và tôi là một chân lý thâm sâu. Một ngày nọ, tôi rất hãi hùng khi nhận thấy một con beo lớn, đứng trên mỏm đá trên đầu tôi. Lạnh lùng tôi đỡ nhẹ nòng súng bên hông tôi và lảy một viên đạn vào đầu con ác thú. Đó là một trong những trường hợp mà bài học của ông José đã trấn tĩnh tôi và cứu tôi khỏi chết.

 

Càng lớn lên, tôi không quên mấy bài học của ông José. Và trong thời gian tôi giữ sự an ninh cho dân chúng ở thành phố xa hoa Goldfield thì tôi thường hỏi thăm ý kiến ông trước khi hành động, dù rằng ông đã hơn 80.

 

Ông José rất hãnh diện màu da đỏ của ông, và ông tự cho nó có trách nhiệm đối với hạnh kiểm của bộ lạc. Ông rất thanh liêm chính trực. Anh Piute nào mà trộm cắp thì biết với ông. Một ngày kia có bốn anh mất dạy đã bắt trộm nửa chục ngựa ở trang trại bên cạnh, ông José theo dấu vào tận trong núi gần ranh giới tiểu bang Nevada. Ông đơn thân độc mã với một khẩu súng trường và hai súng lục mà ông cảnh sát trưởng đã cho ông mượn.

 

Một tuần sau, ông dắt bầy ngựa về. Ông làm cách nào, và có đổ máu không? Chuyện đó ông không hé răng, nhưng bốn tên cướp cạn kia không khi nào ló mặt về làng tôi nữa.

 

Ông José, lại có ý nghĩ này: Tránh một hình phạt bất công cho một kẻ vô tội, còn quan trọng hơn là thi hành một hình phạt đích đáng cho người có tội. Ngày mà một thanh niên Piute mà ông cho rằng vô tội, lại bị tuyên án sát nhân, ông liền tới thành Bishop, với một dây thòng lọng, và trình với viên tòa rằng:

 

Ông muốn hành hình một người da đỏ tử tế thì cứ cho xử giảo José này đi, còn anh thanh niên Piute này vô tội và có con mọn. Tôi già rồi, cứ xử tôi là xong.

 

Thay vì cho xử tử anh Piute, viên tòa cho đày anh này đi, và ông José có lý, vì đứa sát nhơn sau này bị bắt và bị xử giảo.

 

Ông José có một đức tin mãnh liệt về Đấng Tạo Hóa. Ông có thuật lại cho cha tôi biết rằng: khi ông và vợ con ông trốn ra khỏi rừng cấm, ông mất hết hy vọng, băng ngang dải núi tuyết. Ông mới đào một lỗ trong tuyết để cho ông, vợ và hai đứa con nghỉ một giấc nghìn thu, thì Đấng Cao Cả khuyên ông hãy để đồ ăn cho bà Susie, và cấp tốc đi tìm cha tôi để nhờ người cứu trợ.

 

Mỗi lần mà ông tù trưởng ngồi chồm hổm lại, mắt nhắm và cặp môi nhấp nháy thì chúng tôi biết ông đang thông cảm với Đấng Cao Cả.

 

Ông mất vào năm 90 tuổi và đây là lịch sử của nhà hiệp sĩ da đỏ và cách giáo dục của họ đã làm cho tôi trở nên một người công dân xứng đáng.

 

Trích “Việt Nam giáo khoa tập san” số 3/53