Lang thang vào những số sách báo võ thuật xưa. Chúng tôi thấy có rất nhiều bài hay. Để giúp các bạn biết thêm về người xưa, chuyện cũ trong võ lâm Việt Nam. Chúng tôi sẽ lần lượt trích đăng một số bài hay. Do trích đăng nên chúng tôi sẽ giữ nguyên văn, mặc dù có thể có những chi tiết không được chính xác lắm.
Trong bài sau đây có đề cập đến Đại sư Vũ Bá Oai, là hậu truyền nhân của Tổ sư Lê Bái, vị sáng lập ra Hàn Bái Đường. Mà Hàn Bái Đường và Aikido Việt Nam có một mối thâm tình rất nặng, vì người đưa Aikido đến Việt Nam, Đs Đặng Thông Trị, là một đệ tử nhiệt thành của Hàn Bái Đường. Và trong những ngày tháng đầu tiên xây dựng phong trào Aikido tại Việt Nam, Đại sư Đặng Thông Trị đã nhận được sự khuyến khích giúp đỡ tinh thần và vật chất của các sư huynh đệ Hàn Bái Đường.
Do vậy, trong tâm tình cảm tạ sâu xa một đại bang của Việt Nam, và để các bạn đồng môn Aikido hiểu được những công lao khó nhọc của của các vị tiền bối, để xây dựng được phong trào Aikido ngày nay, nhóm anh em aiki-viet đã không e dè giới thiệu các bức tâm thư trao đổi giữa nhóm phụ trách Hàn Bái Đường và Đại sư Đặng Thông Trị, cũng như các bài viết về Đs Vũ Bá Oai và các sư huynh đệ trong Hàn Bái Đường.
Cẩn chi.
Nhóm aiki-viet.
X
X X
Hồi ký của M.K.
Việt Nam Giáo Khoa tập san số 5.
Cuộc gặp gỡ đầu tiên
Nhớ lại năm 1936 hay 1937 vào mùa thu, một đêm thứ bảy không trăng, anh Ba Phát, thơ ký hãng buôn, bạn thân của ông Oai, thầy tôi, rũ tôi đi Bình Điền chơi. (vùng này thuộc về tỉnh Chợ Lớn và Tân An). Mướn một chiếc ghe lường hai chèo và một tên bạn quen, anh Ba Phát cháu “Một”, con của anh, lối mười ba tuổi và tôi, với chút đỉnh đồ ăn đã dự bị, đồng xuống ghe phát hành tại mé sông Chợ Quán lối nhà đèn vào 19 giờ.Thỉnh thoảng chèo, xuôi theo mé sông, 19 giờ rưỡi hơn chúng tôi đã tới cầu Xóm Chỉ (Chợ Lớn).
- Kiến cắn bụng rồi anh Ba ơi, tôi than đói như xéo. Anh Ba cười rồi bảo cháu “Một” đem nồi cơm ra với mắm sống và thịt heo quay.
Neo ghe lại dưới cầu Xóm Chỉ. Lúc ấy trời mưa lâm râm, lại làm cho tôi càng thêm đói bụng.
Anh Ba, cháu Một, tôi và anh bạn chèo, cả bốn người xúm lại ních một bụng cơm với mắm đứ đừ dưới ánh sáng leo lét của cây đèn lồng xách của ghe. Xong, rồi lại uống thêm mỗi người một tô trà Huế đã nấu sẵn từ nãy giờ.
Một bữa cơm đơn sơ mà ngon còn hơn bữa tiệc ở cao lâu. Và cũng vì vậy mà bữa cơm mắm ấy không sao quên được.
Ăn xong, rỉ rả chèo. Hai bên mé kinh vào giờ ấy vẫn còn đèn đuốc sáng trưng, lật bật chúng tôi tới Bình Tây mà không hay. Anh Ba kêu anh bạn ngừng chèo, lên tiệm mua thêm vài cây bánh trung thu và một gói trà ngon đem theo.
Ra khỏi Bình Tây quá 21 giờ. Trời tối, trên sông, thỉnh thoảng nghe tiếng những cây chèo đập mạnh trên mặt nước.
Những ghe thương hồ qua lại có đoàn, lù lù trong bóng tối, tránh nhau nhờ những chiếc đèn treo leo lét hai bên hông. Những giọng hát hò đối đáp nhau nghe văng vẳng như tiếng hát ru em từ trong đám ghe qua lại làm cho tôi càng thêm buồn ngủ. Anh Ba bảo: “Không làm gì, thôi thì chú Ba và Một cứ ngủ đi, để anh Ba thức nói chuyện chơi và thay phiên chèo với anh bạn”. Ngủ thì ngủ. Đêm càng khuya, gió hiu hiu thổi.
Tôi và cháu Một đánh một giấc không biết gì Trời với Đất… Tới rồi! Tới rồi!
Thình lình anh Ba đánh thức tôi và Một.
Mở mắt ra thì mặt trời vừa mọc, ghe đã cặm sào dựa bên bờ rạch. Kế là một sân rộng và một ngôi nhà lá lớn.
Anh Ba dắt tôi và Một vô giới thiệu với ông Năm Vĩnh đang ngồi bộ ván giữa uống trà.
Chủ khách lễ phép xong, anh Ba liền giới thiệu: “Đây là ông Năm Vĩnh, một nhà nho uyên thâm mà cũng là một vũ sư danh tiếng.
“Còn đây là chú Ba Khuê, thơ ký sở ngân khố Sài Gòn, học trò của thầy Ba Oai, trưởng kế toán hãng buôn, sẵn dịp anh Ba kể sơ lai lịch của cụ Hàn Lê Văn Bái, thầy của ông Oai:
Anh Ba nói: “ Cụ Hàn Bái người quê quán ở Hà Nội; nhờ giúp việc cho công ty hỏa xa Vân Nam nên qua ở Vân Nam phủ rồi học vũ thuật tại đó và đi học nhiều tỉnh khác trong nước Tàu 18 năm mới trở về Hà Nội.
Là bạn thân của cụ thân sinh, của ông Oai, nên cụ Hàn Bái coi ông Oai như con và tận tình dạy ông Oai nhiều bí hiểm của môn võ Thiếu Lâm.
Vì một sự tình cờ ông Oai vào sài Gòn hồi năm 1923, lúc ấy ông được 22 tuổi rồi. Vào năm 1922, ông cưới vợ người Bà Rịa và xin chỗ làm kế toán viên ở một hãng buôn.
Học trò của ông Oai lúc ấy có ông Đỗ Dư Ánh sinh viên trường trung học Chasseloup – Lauba mới 15 hay 16 tuổi; ông Trương Văn Lắm, thông ngôn tòa án Sài Gòn, bằng tuổi ông Oai, và nhiều học trò khác với chú Ba Khuê đây”.
Ông Năm Vĩnh mời chúng tôi cùng uống trà nóng và nói: “Tôi là người Trung Việt, vào đây đã lâu, khai phá vùng này rồi ở luôn nơi đây sống về nghề nông. Tôi biết cả văn lẫn võ, nhưng tôi không dạy ai cả, chỉ truyền lại cho năm đứa con trai tôi thôi. Tuy nói làm nghề nông nhưng bao nhiêu công việc đều là con tôi làm tất cả. Tôi có chỉ huy chúng nó mà thôi, nói rồi, ông Năm Vĩnh chỉ và giới thiệu với chúng tôi người con trai thứ Hai và người thứ Sáu, con Út bằng tuổi tôi, có mặt trong nhà. Còn người thứ Tư và thứ Năm đang lui cui coi cấy ngoài ruộng. Người thứ Ba đi vắng. Năm đứa chúng nó đều biết võ cả, nhưng vì tính tình điềm đạm nên tôi dạy thằng thứ Hai nhiều hơn mấy đứa kia”.
Sau khi xin lỗi theo phép lịch sự, ông Năm Vĩnh nói: “Tôi có nghe thầy Ba Phát đây nói thầy Ba Oai đã dạy nhiều học trò học bài quyền “Huê Quyền” của Hồ Huệ Càng đã học tại chùa “Thiếu Lâm Tự” (theo trong bộ tiểu thuyết Tàu “Càn Long hạ Giang Nam”.
“Vậy thầy Ba (ông Năm mời tôi) đánh bài quyền ấy cho tôi xem thử”.
Sẵn đêm rồi ngủ ngon một giấc tới sáng, trong mình được khỏe, lại vừa uống một chung trà nóng, sức lực đang hăng hái, tôi cởi áo, rồi đánh bài “Liên Hoa quyền” Ông Năm khen: “thầy Ba, tướng tá nhỏ người mà đánh rất mạnh, xây trở gọn gàng, lại tay chơn đánh đều và khít khao. Lần thứ nhất tôi mới thấy đánh bài “Huê quyền”. Nghĩ xả hơi một chút, ông Năm mời uống trà rồi nói tiếp: “Hai ạ! Con thấy thầy Ba đánh quyền rồi, vậy con mời thầy Ba thủ thế rồi con phá thử coi”. Có lẽ ông Năm muốn thí nghiệm những thế bí hiểm mà ông đã truyền dạy người con thứ Hai của ông. Anh Hai và tôi đều bước ra giữa sân nhà. Tôi liền đứng “lập tấn” trước mặt anh Hai cách lối một thước. Lẹ như chớp anh Hai khoát tay rồi hạ bộ rất thấp tấn công tới bằng bộ “Hổ tấn”, chơn mặt bước vô trước gần hai chân tôi, chân trái lết theo sau, hai tay anh Hai cũng cùng một lượt với bộ Hổ tấn của anh, thò vô lối cổ chân của tôi, để một tay mặt bắt chân tôi, còn một tay trái và vai mặt của anh Hai thì vừa lấn thân người tôi rồi từ Hổ tấn tiến lên Đinh tấn, tay trái cùng một lúc, với vai mặt của anh, nếu tôi không tránh khỏi thế nầy tôi phải té về đàng sau lưng tôi. Tôi đóan là anh Hai vô tôi như vậy thì sẽ phải đánh như vậy. Nhưng trong lúc anh Hai hạ bộ để bước vô gần tới chân tôi thì tôi cũng đổi bộ Lập tấn ra bộ “Tẩu mã”, vừa nghiêng hết vai mặt của tôi hướng về bên trái của tôi, nghĩa là bên mặt và sau lưng của anh Hai; thì chân mặt tôi (đầu Tẩu mã tấn) bỏ nhẹ cũng hướng đi theo vai mặt tôi mà bỏ về phía bên mặt mà sau lưng của anh Hai. Lẹ như chớp chân mặt ấy của tôi, hồi nãy là đầu Tẩu mã tấn bây giờ lại đứng xuống đất làm trụ sau của Tẩu mã tấn, rồi chân trái của tôi bước đem lên biến thành đầu Tẩu mã tấn nhưng đầu gối trái ấy lại đụng mạnh và kê khít sát sau mông đít của anh Hai. Mặt tôi ngó về ót của anh.
Hai bàn tay tôi xòe và bợ mạnh vào 2 cùi chỏ của anh Hai vừa muốn đánh thúc ngược lại đàng sau anh cho trúng tôi. Lúc ấy tôi đứng sau lưng anh Hai đầu gối chân trái tôi (đầu Tẩu mã tấn) kê đụng đít anh Hai, 2 tay tôi bợ 2 cùi chỏ của anh Hai mà anh Hai cũng vẫn còn đứng bộ Hổ tấn. Như thế thì anh Hai không còn đổi được bộ gì để tiếp tục tấn công tôi. Còn tôi thì vì là lần đầu tiên tôi mới đấu với một người lạ, nên tới đó rồi lại ngừng quên xô cho anh Hai té úp mặt xuống đất, hoặc dùng chân trái đã có sẵn làm đầu Tẩu mã tấn mà đánh quét chân mặt của anh Hai trong khi anh Hai còn đứng y nguyên ở bộ Hổ tấn.
Thì lại may, ông Năm Vĩnh ngồi trên bộ ván vừa uống trà vừa xem anh Hai đấu từ nãy giờ lại hô to: “Hai a, con thua rồi!” Anh Hai liền đứng dậy bái tổ, tôi cũng bái tổ nghỉ.
Anh Hai liền nói: “Thưa thầy Ba, cái thế tôi vừa dùng tấn công thầy Ba đó là một thế ruột hay nhất của ông thân tôi đã truyền dạy cho tôi từ lâu. Tôi đã thắng nhiều người với thế tuyệt diệu ấy. Nay đụng thế ấy với thầy Ba mà không thắng được, thì tôi chịu kém thầy Ba”.
Anh Tư, anh Năm đang ở ngoài ruộng chạy vô và anh Sáu đều có mặt trong lúc đấu.
Đấu xong, anh Hai thân mật hỏi thăm tôi: “Theo môn võ Thiếu Lâm, tập các cách tấn như thế nào cho vừa mạnh lại vừa mềm. Thầy Ba đổi tấn “Tẩu mã” vừa nhẹ vừa lẹ cách nào tôi không hay, thành ra hồi thầy Ba đứng sau lưng tôi, tôi không thấy thầy Ba nữa, rồi tôi ngẫn ngơ không biết làm sao, nên ngừng”.
Trong khi chuyện trò thân mật và vui vẻ thì mặt trời đứng bóng hồi nào không hay (ở đồng quê không có đồng hồ). Những người đàn bà (có lẽ là dâu của ông Năm) ở nhà dưới dọn lên bộ ván giữa một nồi cơm bự, với một con gà thiến thật to, đã luộc hầm với lá hẹ và củ kiệu nguyên củ và lá, chung quanh là những ly và một lít rượu rừng.
Sẵn dịp có khách Sài Gòn, ông Năm mời luôn mấy ông lối xóm tới nhậu nhẹt chơi cho vui.
Mấy anh, con của ông năm, thân mật và cung kính mời anh Ba Phát và tôi nhậu nhẹt chơi và giới thiệu đây là một món ăn đặt biệt ở ruộng khi có khách quý là món gà thiến hầm với hẹ và kiệu. Hết sức mời mà phần tôi thì biết ăn mà không biết uống rượu nên mấy anh không được vui. Còn nói gì anh Ba Phát của tôi thì thôi! Bợm rượu mà lại gặp thứ “Đế” thì anh Ba đã đời tới chiều ra về cũng còn hơi men.
Tới xế chiều trước khi từ giã ra về, vì có lời mời của ông Năm, tôi đánh thêm một bài “Mai hoa quyền” được ông Năm và mấy anh thích quá nói : “Phải chi gần gũi chi đây và tiện đường xe, anh em chúng tôi tình nguyện làm môn đệ của thầy Ba. Thầy Ba ra về để lại yêu mến mãi mãi trong lòng anh em chúng tôi. Vậy thì đây: cây mặc cật nầy của chúng tôi dùng lâu năm rồi để làm cây roi trường mà tối lại để làm cây gài cửa, nó lên nước láng mướt và rất chắc rất dẻo, chúng tôi xin tặng thầy Ba làm cây côn, vật kỷ niệm của chúng tôi”.
Về đến nhà lối 21 giờ đêm, tôi vẫn nhớ mãi cuộc du lịch rất lý thú.
Từ ấy những nay quá 15 năm, biết bao nhiêu cuộc thay đổi, không biết gia đình anh Ba Phát, gia đình ông Năm Vĩnh ra sao, còn hay mất mà không gặp mặt. Anh Ba mà cũng không làm sao đi đến nhà ông Năm một lần thứ nhì nữa.
Viết xong đêm 8 tháng 5 năm 1953.
M.K.6