Thượng Vũ
Thiếu Lâm Tự là môn phái võ thuật tiêu biểu của người Trung Hoa. Qua suốt 1500 tồn tại (495 – 1995) của ngôi chùa mang tên Thiếu Lâm ở trên đỉnh ngọn Thiếu Thất, Tung Sơn, tỉnh Hà Nam, thì võ Thiếu Lâm ít nhất cũng đã ra đời được 1468 năm (năm 572 sau Công nguyên), và từ đó nó đã trải qua bao thăng trầm lẫn vinh quang, theo cùng với vận mệnh của ngôi chùa. Theo lịch sử ghi lại thì Thiếu Lâm Tự đã qua 5 lần bị phá hủy, mà mỗi lần như vậy là kèm theo những thảm cảnh đau lòng, võ phái Thiếu Lâm tưởng chừng như bị diệt vong, và rồi lại phục hồi bởi những người sống sót. Giai đoạn bi thảm nhất là lần đốt chùa vào năm 1736 bởi hoàng đế Ung Chính nhà Mãn Thanh, ngôi chùa bị san thành bình địa, các nhà sư bị thiêu cháy gần như toàn bộ… ngoại trừ một vài người hiếm hoi. Và đây là câu chuyện của những con người đó…
TỪ GIẤC MỘNG CUỒNG ĐIÊN
Vào những năm cuối của vua Khang Hy, trong triều đình nhà Thanh đã nổ ra cuộc tranh giành quyền lực dữ dội giữa những anh em ruột thịt – tức giữa các hoàng tử, con Khang Hy hoàng đế. Tong số này, có cuộc đối đầu giữa đại hoàng tử Dân Nhưng và thập tứ hoàng tử Dân Trinh, là khốc liệt nhất. Dân Nhưng là con cả, theo lệ thường thì sẽ là Thái tử (người sẽ nối ngôi vua), và chuyện đó cũng đã được xác định, đã có những chuẩn bị để Dân Nhưng kế vị vua Khang Hy. Tuy nhiên, đó chỉ là theo lệ, còn mọi việc trong bóng tối thì lại khác. Dân Trinh tuy là em, nhưng lại vô cùng xảo quyệt, mang tâm địa độc ác khôn lường, đã âm thầm chuẩn bị cho một ý đồ lâu dài và ghê gớm. Việc đầu tiên của Dân Trinh là học võ nghệ và lập băng nhóm. Những nhà sư Lạt Ma người Mông Cổ đã được Dân Trinh cho rước từ miền quan ngoại xa xăm về Cấm Cung ( các hoàng tử đều được vua cha cấp cho những cung điện riêng biệt trong Tử Cấm Thành), để dạy võ nghệ và tà thuật. Khi ấy Dân Trinh lên 16 tuổi, nhưng vốn thể chất phát triển sớm, đầu óc lại linh hoạt hơn người, nên chỉ sau hai năm luyện tập, anh chàng đã nắm được hầu hết những bí quyết của các Lạt Ma. Thay vì tiếp tục ôn luyện cho tinh thông, Dân Trinh lại nghĩ khác, khi anh ta đột ngột ngừng tập và tỏ ý muốn tìm đến chùa Thiếu Lâm để xin thọ giáo. Thì ra, Dân Trinh, muốn làm chuyện lớn ở phần đất của người Hán thì phải núp dưới danh nghĩa Thiếu Lâm phái, ngôi sao Bắc đẩu trong võ lâm thời ấy.
Nghĩ là làm. Ngay năm đó, bỗng dưng Dân Trinh biến mất khỏi Hoàng cung, bí mật đi về núi Tung Sơn. Giả làm một thường dân, với một hiệu khác, Dân Trinh xin được nhập học ở Thiếu Lâm tự. Chàng ta còn giả vờ như chưa hề biết võ, tỏ ra rất cần cù, siêng năng luyện tập, đến vị sư trụ trì phải động lòng, nhận làm đệ tử riêng. Nhờ vậy, nên chỉ hai năm sau, Dân Trinh đã tinh thông các chiêu thức – một việc mà đối với người khác phải học mất 10 năm.
Dân Trinh trở lại Hoàng cung giữa lúc tình hình Hoàng gia thập phần rối rắm. Vua Khang Hy sau những chuyến tuần du Giang Nam, đã biểu lộ những dấu hiệu bệnh ngày càng nặng. Người giữ ngôi Thái tử bỗng nổi cơn điên loạn, đến nỗi bị truất quyền kế vị. Dân Trinh rất hy vọng được thay vào đó, tuy nhiên khi dò la biết được mật chiếu của vua, qua đó Trinh biết chắc người được kế vị chính là hoàng tử Dân Đường, chứ không phải hoàng tử thứ 14 như Dân Trinh!
Thế rồi, một cơn náo loạn Hoàng cung, bằng những thủ đoạn kinh hồn, Dân Trinh đã mua chuộc các cận thần, ngầm sửa chiếu chỉ, giành lấy quyền đăng quang khi tiên đế băng hà. Hầu hết những vị hoàng tử kia đều lần lượt bị thanh toán, người biến mất không để lại dấu vết, kẻ đào thoát biệt tăm…
Khi Hoàng đế Khang Hy quy tiên, thì căn cứ vào chiếu chỉ (đã bị sửa đổi) Dân Trinh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Ung Chính. Bắt đầu từ đó, một cơn biến loạn kinh thiên động địa cho sự nghiệp Mãn Thanh, cơn sắt máu nhất trong lịch sử Trung Hoa cũng bùng lên như sóng dữ. Đồng thời giới võ lâm cũng rơi vào cơn đại loạn…
NÁO LOẠN VÕ LÂM
Là một đệ tử của Thiếu Lâm tự, đáng lý ra khi có mọi quyền binh trong tay rồi, Dân Trinh (lúc này đã là Ung Chính Hoàng đế) phải làm mọi cách để nâng cao uy tín của môn phái mình, vậy mà lại khác: Liên tục sau đó, nhiều cao đồ của Thiếu Lâm tự đã bị thủ tiêu một cách bí mật. Ngay cả một Hoàng tử khác là Dân Đê. Dân Đê cũng đã từng được các nhà sư chùa Thiếu Lâm dạy dỗ ngay từ buổi thiếu niên, sau này, tuy không đi hành hiệp, nhưng vẫn được nể trọng như một đệ tử chân truyền Thiếu Lâm tự. Dân Đê không hề có ý tranh giành ngôi báu, vậy mà cũng bị ngầm thanh toán, bằng cách biệt giam cho đến chết. Tuy nhiên, vào một đêm tối trời, người gác ngục đã phát hiện ra kẻ bị giam giữ đã biến mất từ lúc nào? Họ báo cho nhà vua là Dân Đê đã bị giết trong khi tìm cách trốn đi, Ung Chính hoàng đế thở phào nhẹ nhõm, bởi vì trong số anh em, Dân Đê là người có bản lĩnh võ công cao hơn cả, sẽ là mối đe dọa không nhỏ về sau…
Để củng cố ngôi vị, Ung Chính Hoàng đế cho mở rộng tầm hoạt động của phe cánh mình. Các vị Lạt Ma đã lôi kéo thêm nhiều tay giang hồ, kết thành một thế lực rất mạnh, ngày đêm đi lùng sục hầu như khắp nơi để triệt hạ những ai không tuân phục. Phái Thiếu Lâm là những nạn nhân đầu tiên, họ bị vu cáo là trợ sức cho Dân Nhưng, Dân Đê chống lại Triều đình. Đầu tiên là các tăng lữ bị giết khi đi xa chùa – dĩ nhiên mọi hành tung thủ phạm đều được giấu kín, càng gây hoang mang cho giới võ lâm – sau đó, ngay đến Thiếu Lâm tự cũng bị đe dọa, bởi những kẻ độc miệng phao tin rằng có vài vị Hoàng tử chống đối Ung Chính trốn trong đó! Thực hư ra sao chưa biết, nhưng từ lúc ấy Thiếu Lâm tự là mục tiêu số một, được Triều đình quan tâm.
HỎA THIÊU THIẾU LÂM TỰ
Vào một đêm tối trời, bỗng ngọn lửa bốc lên dữ dội từ trong chùa. Có một bàn tay nào đó đã châm lửa đốt chính điện, rồi đến các tòa viện tiếp theo. Sau một đêm hoành hành, sáng sớm ngày hôm sau các ngọn lửa ác đã thiêu hủy gần như hoàn toàn ngôi chùa. Thiếu Lâm tự sừng sững trên đỉnh Thiếu Thất của núi Tung Sơn, từ phút ấy chỉ còn là đống tro tàn…
Đó là vào năm 1736, đánh dấu 12 năm trị vì của Ung Chính Hoàng đế, vị vua thứ tư của nhà Mãn Thanh ở Trung Quốc…
Không ai nhận mình là thủ phạm vụ đốt chùa Thiếu Lâm, nhưng trong võ lâm ai mà không biết âm mưu thâm độc của Triều đình. Oán hận chất chồng, nhưng biết làm gì hơn, trong khi thế lực của Ung Chính Hoàng đế còn khá lớn, và ông ta còn nổi tiếng là con người cuồng hung cực ác, sẳn sàng nhổ sạch bất cứ mầm mống chống đối nào. Võ lâm rơi vào cơn điêu đứng, thê lương nhất trong lịch sử. Các võ phái khác phần thì thế cô, phần thì e sợ trước sự đe dọa của Triều đình, nên chẳng một ai dám có hành động gì. Thậm chí trong thiên hạ không ai còn dám nhắc tới những gì dính tới Thiếu Lâm tự.
Núi Tung Sơn, đỉnh Thiếu Thất từ đó chìm trong sương lạnh, mặc gió rít, mặc trăng sầu… Các nhà sư – nếu còn may mắn sống sót, thì chẳng ai biết đã lưu lạc phương nào?
CHUYỆN LẠ Ở HOÀNG CUNG
Dân tộc Hán tiếp tục rên xiết dưới sự trị vì sắt máu của ông vua Mãn Thanh, Ung Chính Hoàng đế. Các Lạt Ma Mông Cổ được dịp tác yêu tác quái, bức hại các môn phái võ lâm vô cùng tàn độc. Nhiều cuộc tàn sát võ lâm làm chấn động thiên hạ. Có người đau lòng nghĩ đến một sự mạt vận của võ lâm Trung Nguyên… Nhưng, mọi việc cũng giống như sự xoay vần của vũ trụ, trăng khuyết rồi lại tròn, hết mưa rồi lại nắng…
Cho đến một hôm, trong Hoàng cung lần đầu tiên xảy ra một cuộc náo loạn. Chẳng phải cuộc nổi dậy nào, cũng chẳng phải cuộc thanh toán quỷ khóc thần sầu nào, mà chỉ là một bóng đen bí mật lướt qua trên nóc Hoàng cung, trước sự quan sát của tuần tra Nội điện. Ai mà dám làm chuyện ghê gớm đó?
Theo nghiêm lệnh của chính Hoàng đế, thì cũng không ai được bén mảng đến Hoàng cung vào giờ đêm, nếu không có lệnh gọi, đừng nói là lên nóc Hoàng cung chạy như tia chớp trên đó? Tin được báo ngay cho Hoàng đế, và ông vua sắt máu bỗng giật thót người, mặt xanh như gà cắt tiết! Chừng như ông ta đã đoán ra một điều gì đó… điều mà đã từ lâu ông không bao giờ mong nó tới.
Sự canh phòng Hoàng cung được tăng cường tối đa, ngoài số binh lính,còn có sự tụ hội đông như kiến của các Lạt Ma và một đội võ sĩ từ lâu đã được nuôi nấng tập luyện trong Cung. Người ta nói, cho dù một con kiến cũng không thể lọt qua được!
Vậy mà điều phi thường đã xảy ra. Vào một đêm gió rít từng cơn, trăng hạ huyền mờ mờ chiếu rọi… Có hai bóng người đột ngột xuất hiện ở khu vực Hoàng cung. Họ có thân pháp nhẹ nhàng, nhanh như điện xẹt. Cả hai lướt đi trên nóc điện như hai bóng ma, hầu như lóa mắt cả một đội quân canh phòng cẩn mật.
Chỉ một khắc sau, từ phòng ngủ của Ung Chính Hoàng đế, bỗng phát ra những tiếng kêu ghê rợn. Khi mọi người chạy tới thì chỉ còn kịp kinh hoàng nhìn xác nhà vua nằm sóng soài dưới đất. Một thanh kiếm mỏng còn cắm ở đó với dòng chữ ghi ở cán: Lã Tứ Nương báo cừu!
Ung Chính Hoàng đế chết, cả triều đình Mãn Thanh náo loạn. còn trong thần dân thì như vừa trút một gánh nặng. Cả giới võ lâm như vừa qua cơn thập tử…
MÙA XUÂN TRÊN ĐỈNH THIẾU THẤT…
Gà gáy canh tư vừa dứt, thì có hai bóng người từ dưới triền núi vừa lên tới đỉnh. Họ nhìn chung quanh, và cuối cùng nhìn vào đống gạch vụn, nơi mà nhiều năm trước còn đứng sừng sững một ngôi chùa, gọi là Thiếu Lâm tự. Một trong hai người là gái. Cô vận y phục toàn hồng, còn chàng trai thì dạ phục màu đen. Cả hai che kín mặt bằng một vuông lụa mỏng. Họ quỳ xuống nền cũ ngôi chùa, chấp tay khấn nguyện một điều gì đó. Và, họ khóc…
Những lời khấn nguyện của họ chỉ lọt ra ngoài không gian một đoạn ngắn, chỗ rõ chỗ loáng thoáng: Các con đã báo được thâm thù… từ nay xin hương hồn… yên vui. Thiếu Lâm tự sẽ còn mãi…
Khi mặt trời mọc lên cũng là lúc hai người đó rời khỏi đỉnh núi. Đằng sau họ, nắng bắt đầu chan hòa trên đỉnh Thiếu Thất, đây đó mai vàng đang nở rộ báo hiệu một mùa xuân hòa bình…
Có người nói rằng cô gái mặc áo đỏ đó là nàng Lã Tứ Nương, người báo thù được cho dân tộc Hán, cho giới võ lâm. Chỉ vì cô là một trong những người con của một đại đệ tử Thiếu Lâm bị Ung Chính Hoàng đế sát hại trong lần đốt chùa… Cô có tên họ thật bắt đầu bằng chữ Hồng.
TV
(Theo Thanh Cung Thập Tam Triều và Giai thoại ngoại sử)