(tìm hiểu Võ thuật tập 2 , 1/1991)
Tả Tướng quân Lê Văn Duyệt làm quan Tổng Trấn Nam Thành (Nam Bộ ngày nay). Ông đặt ti sở ở thành Gia Định. Ông giỏi nghề trị dân, nên muôn dân Nam Thành cũng như dân chúng thành Gia Định luôn luôn được ấm no và yên ổn.
Bỗng dưng năm ấy, một đàn cá sấu kéo nhau vào ở khúc sông Gia Định. Cá sấu rất hung dữ. Chúng thường nổi lên mặt sông, leo lên thuyền bè, bắt người xuống sông, hoặc nhảy cả lên bờ, lôi người đi ăn thịt, dân chúng thành Gia Định sống trong nổi kinh hoàng.
Lê Văn Duyệt cấp báo cùng khắp nơi trong nước tìm người có tài bắn và có sức mạnh để trị cá sấu trên sông Gia Định và nhân thể trị con ngựa bất kham của ông. Thông báo nói rõ, ai làm hai việc đó sẽ được cho làm quan to.
Quan tuần vũ Cao Bằng cử Hai Khôi vào Nam Thành. Thấy Hai Khôi người cao lớn, đi nhanh như hổ, bước chắc như gấu, Lê Văn Duyệt rất mừng, thâu Hai Khôi làm lính vệ binh của ông.
Sau khi nghỉ ngơi, Hai Khôi bắt tay vào việc trị con ngựa bất kham và giết bầy cá sấu.
Lê Văn Duyệt mua con ngựa này đã hai năm nay. Con ngựa hồng cao lớn, bờm xù như bờm sư tử, tai dài nhọn hoắt trông rất đẹp. Đã hai năm nay, nó chưa bao giờ ra khỏi tàu ngựa vì không có người nào dám gần nó. Bốn vó nó thằng đứng, lúc nào cũng đạp thình thịch. Đôi mắt nó lồi ra, long lanh, lúc nào cũng đỏ ngầu. Nó cụp đôi tai lại, và thò đầu ra định cắn những ai mon men tới gần chuồng. Mỗi lần nó hí là mỗi lần nó làm giật mình những người chung quanh.
Hai Khôi biết là con ngựa khỏe và hung tợn lắm. Anh nai nịch gọn gàng trong bộ võ phục, hùng dũng bước những bước chắc như gấu, xăm xăm đi vào chuồng ngựa. Con ngựa hí vang, những người xem dù đã biết trước vẫn phải giật mình. Nó đạp bốn vó thình thịch, dọa nạt mọi người rồi cụp tai thò đầu, há mõm ra cắn. Hai Khôi tát vào hai má ngựa những cú trời giáng. Nó chồm lên, đá hậu, thò đầu nhe răng ra cắn nữa. Hai Khôi lại tát luôn mấy cái. Ngựa rụt đầu vào chuồng, hai mắt đỏ ngầu như hai hòn than hồng trừng trừng nhìn Hai Khôi. Hai Khôi lại giơ tay lên, ngựa quay mặt đi.
Hai Khôi kéo bờm ngựa, buộc đôi dây cương to bằng cổ tay, dắt ngựa ra. Bấy lâu nay bị giam cuồng cẳng, nay được sổ chuồng, ngựa chồm lên, đứng thẳng trên hai chân sau. Hai chân trước định cuốc thẳng vào Hai Khôi. Hai Khôi bóp như kiềm thép vào mũi ngựa, ghì đầu xuống, tát luôn mấy cái vào má ngựa. Ngựa chịu thua Hai Khôi, không dám chồm lên nữa. Anh đã thắng bước đầu.
Hai Khôi định nhảy lên lưng ngựa, nhưng nó cứ xoay như chong chóng chung quanh người anh. Anh ghì chắc dây cương, vỗ mạnh vào lưng ngựa mấy cái liền. Lưng ngựa võng xuống, Hai Khôi nhảy phắt lên lưng nó. Ngựa lồng lên, lao mạnh về phía trước. Vừa lồng lên chạy, nó vừa chổng vó lên đá hậu, định hất Hai Khôi ngã lộn cổ. Anh kẹp chặt hay chân vào nách ngựa, nó không chạy được, phải đứng lại. Rồi nó chồm hai chân trước lên, định hất Hai Khôi ngã lộn ra phía sau. Hai Khôi ôm chặt cổ ngựa, kẹp hai chân vào nách nó. Ngựa cụp tai, đứng lại không chồm nữa, không đá hậu nữa. Nó muốn phi lắm, nhưng bị Hai Khôi ghì chặt dây cương. Ngựa xoay như chong chóng, chạy tại chỗ. Hai Khôi đã thắng bước thứ hai.
Hai Khôi tiến sang bước thứ ba : cho ngựa phi. Anh thả chùng dây cương. Ngựa duỗi cả bốn chân, phi nhanh về phía trước, vừa phi vừa đá hậu. Con ngựa phóng như một làn gió dữ. Hai Khôi ôm chặt lấy cổ ngựa cầm chắc dây cương, điều khiển ngựa phi theo hướng đã định trong bãi thao trường. Đám người đứng xem nín thở hồi hộp theo dõi. Ngựa vừa phi vừa đá hậu liên tục, ai ai cũng sợ Hai Khôi ngã lộn cổ về phía trước. Nhưng Hai Khôi vẫn bình tĩnh, để mặc cho ngựa phóng.
Thao trường rộng mênh mông, mọi ngày luyện tập, quân sĩ ra sức chạy một vòng đã thở ra hai lỗ tai, thế mà Hai Khôi đã cho ngựa phi luôn một hơi hai mươi vòng. Anh vẫn tỉnh táo ngồi chắc trên lưng ngựa, ôm chặt cổ ngựa. Ngựa dần dần thở phì phò, mồ hôi bắt đầu rơm rớm hai nách, mép sùi bọt trắng xóa. Ngựa đã chịu phép hoàn toàn theo sự điều khiển của Hai Khôi. Nó phi nhanh, chậm theo ý của anh. Nhưng Hai Khôi vẫn chưa cho ngựa dừng lại. Anh cứ thúc ngựa phi mãi. Càng về sau, ngựa càng chịu dần, không đá hậu, không lao bừa bãi nữa. Ngựa bị Hai Khôi khuất phục rồi, chạy chậm lại.
Hai Khôi gò cương, dừng lại trước mặt Lê Văn Duyệt và đám đông. Lê Văn Duyệt hài lòng lắm. Quân sĩ vỗ tay reo hò, mừng Hai Khôi đã trị được con ngựa bất kham bấy lâu nay không ai dám đến gần.
***
Người ta coi cá sấu như con hổ nổi ở trên sông, cho nên có tên là hổ phù. Dân chúng báo tướng công Lê Văn Duyệt đàn hổ phù trên sông Gia Định có khoảng chục con.
Hai Khôi xin Lê Văn Duyệt cho mượn mười khẩu súng trụ hạng lớn, mười chiếc thuyền to và chắc, một trăm người lính can đảm, lanh lợi và tháo vát để chèo thuyền ra sông.
Anh trình bày thêm :
- Súng trị nổ sẽ giật rất mạnh và làm lùi chiếc thuyền. Chiếc thuyền lùi nhanh sẽ va rất mạnh vào bờ rồi vỡ tan. Người chèo thuyền sẽ phải bỏ mạng nếu nhảy lên bờ không kịp. Có khi mất cả súng. Vì vậy phải có mười chiếc thuyền, mười khẩu súng để bắn mười lần. Mỗi thuyền phải có mười người chèo, vị chi phải có một trăm người lính.
Sáng hôm ấy, mười tốp lính, mỗi tốp mười sáu người khệ nệ khiêng mười khẩu súng một cách nhẹ nhàng xuống từng chiếc thuyền.
Lê Văn Duyệt và quan quân trên bờ rất ngạc nhiên và cảm phục sức khỏe phi thường của Hai Khôi. Hai Khôi cùng mười người lính xuống thuyền thứ nhất, chèo ra sông. Anh dặn người lính :
- Khi thuyền sắp va vào bờ, các anh phải nhanh chân nhảy lên. Còn tôi, tôi sẽ cầm khẩu súng nhảy theo.
Chiếc thuyền thứ nhất ra sông. Hai Khôi cầm chắc khẩu súng, căng mắt quan sát mặt nước. Chợt có hai cá sấu rẽ sóng, lao vun vút tới chiếc thuyền. “Đùng” – một tiếng nổ vang trời, hai con cá sấu lồng lộn rồi nằm phơi bụng. Chiếc thuyền giật lùi, chạy veo veo trở lại, va mạnh vào bờ vỡ tan. Mười người lính đã nhanh chân nhảy ra khỏi thuyền. Hai Khôi cũng đã cầm súng nhảy theo.
Chiếc thuyền thứ hai : một con cá sấu lại lồng lộn ngửa bụng chết giữa dòng sông. Những con khác ngụp lặn chạy trốn.
Rồi cứ thế, Hai Khôi chỉ huy liên tiếp ba thuyền nữa ra sông, và mỗi lần hạ được một con cá sấu.
Thuyền thứ sáu ra sông, chèo sang bờ bên kia mà không gặp “địch” cứ bơi đi bơi lại trên sông. Không có chú “hổ phù” nào ngoi lên nữa. Đàn cá sấu chỉ có sáu con, và tất cả đều đã phơi xác dưới làn đạn của Hai Khôi rồi.
Tổng trấn Lê Văn Duyệt rất mừng, phong Hai Khôi làm chức quan Phó vệ Binh và nhận Hai Khôi làm con nuôi. Ông đổi tên Bế Hữu Khôi thành Lê Văn Khôi.
Lê Văn Khôi ở lại Nam Thành làm quan, giúp việc đắc lực cho Tổng trấn Lê Văn Duyệt.
***
Tả quân Lê Văn Duyệt có cho làm những chỗ nuôi hổ và voi. Hổ nhốt vào cũi để trong một thửa đất dựng nhiều khại, mỗi khại chứa ba bốn mươi cũi hổ.
Một hôm, Tả quân cùng với sứ thần Xiêm La (Thái Lan bây giờ) ngồi trên vọng đài xem các võ sĩ đấu với hổ. Dân chúng chen chúc đứng chung quanh đài. Tả quân truyền lệnh thả hổ ra để võ sĩ biểu diễn bắt sống hổ cho sứ thần xem.
Võ sĩ Lê Văn Khôi mình trần trùng trục, tóc tết đuôi gà, mặc quần cụt, tay cầm đùi heo. Không ngờ gặp con hổ quá dữ, chồm ngay lại tát Khôi. Khôi né mình, đánh ra một côn trúng hổ, hổ ngã lăn ra, dãy dụa một lúc rồi nằm im tắt thở.
Sứ thần Xiêm la tấm tắc khen ngợi nhưng bỗng thấy Tả Quân nổi trận lôi đình, rút lệnh tiễn truyền đao phủ bắt trói võ sĩ Lê Văn Khôi đem chém, vì đã có lệnh đấu với hổ chỉ được bắt sống chứ không được đánh chết. Lê Văn Khôi đến trước vọng đài xin tha tội vì không biết, và xin được bắt sống hổ khác để chuộc tội. Tả quân ưng cho. Khôi lại bước vào khại. Lính thả hổ ra. Bên ngoài trống thúc vang trời, bên trong Khôi với hổ đánh nhau một mất một còn. Cuộc tỷ thí lần này thật là gay go : hổ lớn và rất dữ. Nhưng Khôi không phải tay vừa, anh dùng một miếng võ hiểm đá trúng hàm dưới của hổ. Hổ nằm lăn ra, chổng bốn chân lên trời. Khôi lấy cuộn dây trong mình trói hổ lại, vác đặt dưới vòng đài làm lễ xin chuộc tội.
Sứ thần Xiêm la thấy vậy khen không dứt lời. Tả Quân ung dung nói :
-Bọn tiểu tốt dưới trướng tôi đều như vậy cả, có chi đáng cho đại nhân khen.
***
Năm 1832, Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất. Triều đình chia Nam kỳ ra làm sáu tỉnh (lục tỉnh), bỏ Gia Định thành và Tổng trấn. Sáu tỉnh thuộc thẳng về nhà vua. Thành Bát Quái chỉ là thành của tỉnh Phiên An. Năm 1833, bố chính Phiên An là Bạch Xuân Nguyên vốn tham lam, tàn ác bới chuyện cũ của Lê Văn Duyệt, bắt con nuôi của ông là Lê Văn Khôi. Khôi khởi loạn, chiếm thành Phiên An, rắp tâm cát cư, cho quân đi chiếm các tỉnh. Đại quân của triều đình đến bao vây. Sau khi đánh ráo riết ở trong phố, Khôi vào cố thủ trong thành Bát Quái.
Khôi ốm chết, nhưng thành vững, lương thực nhiều, quân nổi loạn giữ được hai năm, đến năm 1835 mới bị phá.
Tất cả 1831 loạn quân đều bị xử tử.