Hồng Nghiêm
trích “Sổ tay Võ Thuật” tháng 12/94.
Sanh quán tại làng Tân Tích dưới thời vua Minh Mạng (1820-1840), Nguyên Hương là con út trong một gia đình nghèo khó có 3 con. Từ bé đến tuổi trưởng thành, ông phải làm thuê, ở mướn cho các nhà giàu trong thôn xóm để nuôi thân.
Tuy sinh trưởng trong cảnh bần hàn, nhưng do thiên phú, Nguyên Hương có vóc người lực lưỡng, sức mạnh vô song và rất giỏi võ. Bình sinh ông ham chuộng võ nghệ và luôn mơ ước được sống cuộc đời binh nghiệp. Giấc mơ của Nguyên Hương sớm biến thành sự thật, nhờ dịp thay chân cho một cậu ấm, rủi bốc trúng thăm xung quân trong kỳ mộ lính. Ông từ giã vợ và hai con lên đường tòng quân. Ngay sau khi nhập ngũ. Nguyên Hương tình nguyện xung vào đội vệ binh áp tải công ngân về Kinh thành Huế. Thời bấy giờ, việc giao thông nội địa là cả một vấn đề phức tạp, phương tiện chủ yếu là đi bộ, hoặc đi ngựa, hạng giàu sang thì dùng võng. Ngoài ra, ghe thuyền cũng được vận dụng nhờ vào mạng lưới sông rạch giăng mắc khắp xứ. Cuộc hành trình gian khổ lại thêm phần hiểm nghèo vì nạn thổ phỉ hoành hành khắp nơi. Chúng thường đón đợi ở những nẻo đường vắng vẻ hiểm trở để cướp của và tàn sát khách bộ hành, những đoàn áp tải công ngân là những miếng mồi béo bở của chúng. Do đó, cần phải được bảo vệ bởi những đội quân tinh nhuệ, tuyển chọn đặc biệt dành riêng cho nhiệm vụ này. Những chiến sĩ muốn gia nhập đội vệ binh phải qua một cuộc sát hạch tài nghệ, sức mạnh và nhất là lòng dũng cảm bằng cách tay không đương đầu với một con cọp dữ. Cách tuyển chọn này, theo giới cầm quyền thời đó, là rất công minh, vì không thể có sự ưu đãi nào cho bất cứ ai.
Khi Nguyên Hương bước qua vòng rào tre bao bọc đấu trường, tiếng trống trận gióng lên liên hồi để cổ vũ ông đồng thời cũng để khích động con thú dữ. Nguyên Hương trụ bộ vững vàng trên đôi chân chắc nịch, mắt sáng quắc chiếu thẳng vào đôi mắt cọp, sẵn sàng chuẩn bị một cuộc tử chiến với dã thú. Trái với sự mong đợi của mọi người, con hổ gầm gừ, nhưng vẫn bất động tựa hồ như bị đóng đinh tại chỗ. Nguyên Hương từ từ xê dịch đôi chân tiến dần đến và nhanh như ánh chớp, chụp cứng hai chân trước của con thú giơ bổng toàn thân cọp qua khỏi đầu mình và quật mạnh xuống đất. Tiếng hò reo vang động khắp bốn mặt đấu trường. Trên khán đài quan khách và các vị giám khảo nhìn nhau sững sờ. Quan tổng trấn vội hạ lệnh cho Nguyên Hương dừng trận đấu, tha chết cho con thú, và ngay sau đó ông được phong chức chỉ huy đội vệ binh Triều đình.
Lòng dũng cảm và những phẩm chất cao quý của ông, hầu hết triều thần nể vì, mến chuộng. Thậm chí ông kết hôn lần thứ hai với con gái của một đại quan nơi Triều nội.
Lúc bấy giờ, bọn hải tặc tràn ngập lãnh hải Việt Nam, chúng rong buồm suốt cả vùng bể Đông đến vịnh Thái Lan. Trong số này có một tướng cướp người Trung Hoa lừng danh và đáng sợ nhất, một tay cừ khôi về quyền cước lẫn kiếm thuật. Hắn kiêu hùng đến nỗi không màng đánh cướp các thương khách mà chỉ nhắm vào những phủ quận ven biển để cướp công ngân, kho tàng của Triều đình. Sau thời gian dài tung hoành ngang dọc, hắn quyết định giăng một mẻ lưới cuối cùng, rửa tay gác kiếm hầu tận hưởng những của cải hắn đã chiếm đoạt tích trữ được. Hắn cho tàu thả neo tại vùng biển Hà Tiên. Nghe tin dữ, dân chúng hốt hoảng kéo nhau chạy trốn hỗn loạn. Nguyên Hương cương quyết diệt trừ tên cướp nguy hiểm này trong một trận đấu tay đôi. Ông bơi chiếc xuồng hướng về phía tàu bọn cướp. Khi vừa tầm tiếng nói, ông cao giọng thách đấu với tên cướp. Kinh ngạc và tức giận trước sự táo bạo của một kẻ vô danh, tên cướp chấp nhận trận chiến sanh tử này. Tay khiên tay kiếm, hắn nhảy xuống xuồng và cuộc chiến đấu khốc liệt không khoan nhượng diễn ra suốt nửa ngày, bất phân thắng bại. Nguyên Hương đề nghị tiếp tục cuộc chiến trên đất liền, tên cướp đồng ý. Hắn ném chiếc khiên xuống nước đồng thời phóng mình theo dùng khiên làm điểm tựa, nhảy tiếp lên bờ cách xuồng khoảng 15 thước. Lên đến đất, hắn trụ bộ cầm ngang thanh kiếm vênh váo chờ đón Nguyên Hương. Không cần lấy trớn, ông phóng mình lên không và sà xuống cạnh tên cướp, đang tròn mắt hoảng hốt nhìn. Tên cướp hiểu ngay, mình đang đứng trước một người võ nghệ tuyệt luân, hắn vội buông kiếm thần phục. Ông tha cho hắn với điều kiện phải hoàn trả những gì đã cướp được vào công quỹ và chấm dứt cuộc đời cướp bóc.
Năm 1867, quân Pháp đã tràn ngập Nam kỳ, những cuộc kháng chiến của quân dân miền Nam nổi lên hàng loạt, Nguyên Hương đã góp phần đắc lực vào cuộc chiến đấu này. Năm đó lực lượng kháng chiến quân bị bao vây lùng sục tại vùng Láng Linh, lối thoát duy nhất của các chiến sĩ – chỉ trang bị bằng những vũ khí thô sơ, gậy gộc giáo mác, cộng thêm lòng dũng cảm, ý chí diệt thù, phải công phá doanh trại quân Pháp, nơi chận đường và điểm tựa xuất phát các cuộc hành quân bố ráp.
Dẫn đầu đoàn chiến sĩ, Nguyên Hương ra lệnh xung phong, sau một cuộc chiến đẫm máu long trời lở đất, các chiến sĩ lần lượt gục ngã dưới làn đạn của quân Pháp. Cuối cùng người anh hùng Việt Nam phải đau lòng chấp nhận là võ nghệ và lòng dũng cảm không thể nào chống lại với đại bác thần công. Ông ra lệnh mở đường máu thoát thân, sau đó quyết định giải tán số nghĩa quân sống sót. Rồi giả danh ăn mày trở về sống nơi làng cũ. Theo truyền thuyết, Nguyên Hương sống âm thầm đến cuối đời tại đây. Mộ ông hiện vẫn còn ở Tân Tịch.
Hồng Nghiêm
(Theo Tạp chí Art Dojo Martiaux No33)