 |
|
Cách đây gần 80 năm, trong một làng nhỏ giữa lòng miền nam trù phú, có một cậu bé 13 tuổi rất ham võ nghệ. Hàng ngay chú lặn lội qua các cánh đồng tìm thầy học võ. Đâu đâu nghe nói có thầy hay là chú tìm tới. Nhưng qua bao lần tìm kiếm, chú vẫn không thỏa mãn. Một ngày kia, ngồi mơ màng chuyện võ nghệ, chợt một tiếng rao lơ lớ vang lên: “Ai nhổ răng, nhổ răng đây!”. Chú giật mình nhìn ra, một người Hoa bán thuốc, nhổ răng dạo đang xách chiếc thùng gỗ đi qua trước ngõ. Chú chạy theo không phải để nhổ răng mà đề níu áo ông thầy hỏi: “Ông ơi, ông có biết võ không, dạy cho tôi với!”. Ông thầy lắc đầu quầy quậy: “Không biết, không có võ nghệ gì cả”. Chú bé vẫn không chịu thua, linh tính báo chú biết rằng con người ấy có một cái gì kỳ bí, có thể đáp ứng điều mong mỏi của chú bấy lâu nay. Chú chạy theo níu mãi. Ông thầy vẫn đi, chú vẫn theo. Tới một chổ khuất bóng cây, ông thầy quay lại, cúi xuống nhìn mặt chú bé rồi bảo: “Mầy muốn học võ hả? Tao có võ nghệ gì đâu mà học?”. Chú bé khăng khăng bảo ông có võ. Cuối cùng ông thầy bèn nhượng bộ, hỏi chú có thể theo ông ta được không? Chú bé gật đầu, chạy về nhà, xin phép cha mẹ đi học võ, rồi từ đó, đi biệt tăm, cả nhà nào ngờ được rằng chú đã qua tận Sơn Đầu bên Trung Quốc để học võ.
Trên bước đường theo thầy ra biên giới, chú bé được thêm một người bạn nữa, ba thầy trò cùng đi. Từ đấy hai người sống trong chùa với thầy, sáng tối cùng tiếng chuông câu kệ, luyện tập võ công giữa núi rừng giá buốt.
Ông thầy ấy là một vị thiền sư, vì tham gia chính trị mà bị lùng bắt và lưu lạc sang Việt Nam.
Một ngày kia, sau một thời gian tu hành, luyện tập, hai người học trò được sư phụ sai qua bên kia một ao sen, hái cho được mấy bông huệ về căm trên bàn thờ. Đứng bên này ao, hai chú bé nhìn về phía bên kia với con mắt e dè: ao rộng, không đường đi, dưới ao toàn là cọc nhọn, rủi nhảy không qua rớt xuống, còn chi là thân thể? Mà lạ, bên này ao thiếu gì huệ, tại sao thầy lại bảo phải hái mấy bó huệ bên kia ao mới được?
Một chú lắc đầu không làm. Chú kia nghĩ: Nếu thầy bảo vậy là có dụng ý gì, mình cứ làm, thầy tất phải lo liệu chu đáo cả rồi”. Nghĩ là làm liền. Chú bé lấy đà, từ xa chạy lại, phóng đại lên trên mặt hồ, bất kể sống chết. Trong giây phút hải hùng ấy, bổng có một người bay theo, kẹp nách chú bé bay luôn qua bên kia hồ. Hoàn hồn nhìn lại, chú bé mới nhận ra đó là thầy mình. Thầy chẳng nói một lời, bảo chú bé hái mấy bông huệ, rồi thản nhiên bồng chú bé nhảy về chùa.
Chú bé ấy được Mộc Đức thiền sư chính thức nhận làm đồ đệ và chú kia bị thải hồi.
Từ đó, đêm ngày không ngớt, thầy dạy đến đâu trò thuộc đến đó, thông minh xuất chúng làm cho vị sư già vô cùng hài lòng. Vị sư lại có lối dạy đặc biệt, không bao giờ nói thầy dạy cho con bài này, bài nọ, mà chỉ dạy những thế rời, bắt môn đệ học thuộc tên, rồi nhớ luôn số thứ tự theo thời gian các đòn đã học. Sau khi học trò đã kha khá vốn liếng võ thuật, vị thầy bảo con đi từ số mấy đến số mấy thầy coi. Người môn sinh vâng lời, và sau khi xem xong, thầy nói, đó là bài quyền tên như vậy, như vậy. Bấy giờ người học trò mới hay thầy đã cho đi quyền mà mình không hay.
Giảng về chiến thuật, vị thầy cũng có một lối thật đặc biệt. Một ngày kia, hai thầy trò đang ăn cơm, vị thầy bỗng hỏi: “Con ăn cơm làm chi vậy?”. Trò ngơ ngác, song cũng trả lời: “ Thưa thầy con ăn cơm để sống”. Thầy tiếp: “Sống làm chi vậy?”.
- Thưa thầy, để học võ.
- Học võ làm chi vậy?
Trò đang ngập ngừng thì thầy tiếp:
- Bây giờ thầy hỏi lại từ đầu, và con làm sao để bắt thầy phải trả lời, con nhé. Thầy hỏi đây: “Con ăn cơm làm chi vậy?
- Thưa thầy để sống.
- Sống làm chi vậy?
Trò:
- Thầy hỏi làm chi vậy?
- Để biết.
- Biết làm chi vậy?
Thầy cười xòa: “Khá lắm! Khá lắm!”
- Đó con thấy không, trong võ thuật cũng vậy, nếu người ta đánh con, con đỡ rồi lùi, người ta đấm tiếp, lại đỡ lại lùi, biết bao giờ mới kết thúc trận đấu, và rồi có khi hết chổ lùi, con chết. Bởi vậy người ta đánh, con đỡ rồi trả đòn liền, hoặc nếu thấy không cần, chẳng thèm đỡ, đánh trả luôn. Người ta đánh con, người ta công, con đỡ là thủ. Giờ con đánh trả, người ta bắt buộc phải đỡ, thế là con đã bắt người ta thủ, con công. Làm sao con trả lời thầy cho hết nếu thầy cứ hỏi dần lên thế đó.
Những năm tháng dài trôi qua, thấm thoát đã hơn mười năm, người học trò tưởng mình đã giỏi lăm rồi, nên có ý hơi kiêu căng. Vị thầy có lẽ hiểu được ý nghĩ thầm kín ấy, nên một hôm bảo : « Con ra ngoài đường, xem mấy bà bán bánh đi qua, kêu một người vào đây, ta đổi khoai lấy bánh ăn con nhé !».
Thời ấy, ngôi chùa nói trên nằm bên một con đường mòn mà các người buôn thúng bán mẹt hay đi qua. Và chùa lúc ấy lại đang mùa khoai, nên khoai quá nhiều ăn không hết.
Người học trò ra đường, kêu một bà già, bà ấy than hàng ế ẩm, liền mời bà vô chùa đổi bánh lấy khoai.
Vào chùa, bánh thì quý mà khoai thì rẻ, bởi vậy lấy ít bánh mà người học trò phải dồn cả hai thùng khoai bự, bà già mới chịu. Khi nhất gánh ra về, cây đòn gánh chịu không nổi oằn xuống rồi gãy như tiện. Bà già nhìn quanh, thấy trong vườn chùa có một cái cây vừa cỡ, vội lại sờ thử, rồi cầm cái cây xuông tấn, hét một tiếng, nhổ cây lên, bẻ tiện khúc gốc và khúc ngọn quăng đi, lấy khúc giữa thay cây đòn gánh. Người học trò kinh hoàng, từ đó mới chăm chỉ luyện tập không một chút sao lãng. Người học trò ấy sau trở thành võ sư, tên Đoàn Tâm Ảnh.
Trần Phong.
(sưu tầm)