Nguyễn Quý Dũng.
Nắng trên trời ập xuống. Nóng trong đất bốc ra. Gà trưa không còn vang tiếng gáy. Con sông Trà Lũ vốn hung tợn là thế vẫn không quậy nổi một cơn gió vào bờ. Ba năm rồi những gì thay mặt cho sự sống ở vùng Sơn Nam Hạ này đều bẹp dí dưới cơn hạn hán. Đồng thưa vắng người. Kẻ gượng sức tàn thì lang bạt xứ xa tìm phương sinh sống. Đám tráng đinh trai trẻ thì tụ tập tôn “Đạo Chích” lên thờ. Đất loạn càng thêm loạn. Bọn quan lại tha hồ vơ vét những thằng dân khố rách áo ôm. Đến những kẻ thân dài vai rộng làm quần quật suốt ngày vẫn chưa lưng được bụng.
Kể từ hôm xẻ thịt con trâu mộng của chủ, mở tiệc khao quân, chiêu binh mãi mã đến nay, người đến như trẩy hội, Vành vẫn chưa tìm ra phương cách nuôi sống qua ngày cái đạo quân đói rách ngày một đông của mình. Đã ba ngày anh không màng đến ăn uống, ấm nước vối trên bàn được cu Vò thay đã mấy chục lần cho nóng vẫn không buồn vơi. Phương liệu làm sao với lòng người khi Triều đình vẫn chưa biết đến âm mưu tạo phản bây giờ?
Chợt Vành chống tay đứng phắt dậy. Cái bàn chuyển răng rắc rồi xiêu hẳn về một phía dưới cánh tay đầy lông lá của anh. Phải, chỉ có Tri Đạo – người giàu có, có máu mặt nhất vùng này mới là người có tâm huyết. Vắt vội chiếc áo lên tấm lưng trần to như bức tường đình, Vành bước nhanh về phía làng Cát Già. Theo sau là Cu Vò đã từ lâu vẫn như chiếc bóng.
Trên chiếc tràng kỷ kê ở hàng ba, Trí Đạo ngồi xếp chân chữ ngũ. Nhìn ông ta nhàn hạ là thế, nhưng trưa nay trong lòng bừa bộn không yên, hồ đồ khó phân lành hay dữ. Trí Đạo bỗng đổi thế ngồi, đưa chiếc quạt có vẽ tranh thủy mặc che ngang mày. Ông ta dần dần nhận ra con người có thân hình như tượng đồng thấp thoáng dưới những tàu lá chuối cạnh bờ ao dẫn vào nhà. Dẫu có trấn tĩnh, Trí Đạo vẫn thấy các khớp xương chuyển run lên khe khẽ. Ráng cho thoát làn hơi gần hụt trong cuốn họng to bè, ông quát tháo gia nhân mổ gà giết lợn soạn cỗ.
Sau khi phân ngôi chủ khách, Vành ngồi xuống bộ sập gỗ lim giữa nhà. Rượu rót mãi không thôi. Mâm thịt lợn cứ theo nhịp gắp của Vành vơi đà quá nửa. Tri Đạo bồn chồn quan sát Vành. Nhưng ông vẫn không tìm ra ý tứ gì trên khuôn mặt lạnh như băng kia.
Bỗng Vành sang sảng cất giọng:
- Dân tình thế này mà nỡ ngồi yên, thế nước bên bờ vực lẽ nào trố mắt nhìn không chia vai vào vác. Tôi thay mặt nghĩa quân đến để xin ngài đóng góp vào việc chung vài đấu thóc mục.
- Nghe tiếng Ba Vành võ nghệ vô song bấy lâu, lòng tôi đã từ lâu muốn gởi vàng chọn ngọc. Nhưng … mặt người anh hùng nghe mà chưa tỏ … Mong ngài lượng thứ cho.
Vành ngửa cổ cười ha hả, khoát tay bảo Cu Vò:
- Vò, chuẩn bị!
Người nhà Tri Đạo tò mò xem Vò vạt lao. Trong nháy mắt mười ngọn lao đẵng ngà to bằng bắp cày bày ra giữa nhà.
- Xin vô phép!
Dứt lời, Vành dùng lòng bàn chân lăn tung ngọn lao lên mu bàn chân hất bổng lên. Chân bắt tay chộp, mười mũi lao xé gió xuyên đều hai hàng lên thân những cây chuối dọc theo lối đi. Cứ ba cây một ngọn đều tăm tắp như thợ mộc đóng rào. Tri Đạo không nói thêm một lời nào. Ngày hôm đó ông hiến cả gia sản và theo về với nghĩa quân.
… Cầm lá sớ cấp báo từ các tấu sớ Trà Lý, Lân Hải trong tay, gương mặt Trấn thủ Sơn Nam Hạ Lê Mậu Cúc – phò mã Hoàng triều – dần dần biến sắc. Cúc đâu ngờ rằng đám giặc cỏ mà từ lâu Cúc xem như lũ cướp cạn đã liên kết với Thủ ngự sử Vũ Đức Cát trấn giữ cửa Ba Lạt, giết chết hai tướng Đinh Miễn và Nguyễn Trung Diễn. Nghĩa quân đã đập tan 12 đạo binh lương của Triều đình, đánh cho tiền quân Đô thống chế Trương Văn Minh và Thượng thư Nguyễn Hữu Thận không còn manh giáp ở Cồn Tiên, Bác Trạch. Vò nát tờ sớ trong tay, Cúc hối hả điểm binh xuất chiến, lại sai Hào Kiệt Hầu Đỗ Hào giữ đạo tiền quân rầm rộ lên đường.
Ráng chiều đỏ ngừ máu cuối chân trời. Trống trận từng hồi rúc dồn trong cơn gió còn mang hơi nóng buổi quá ngọ. Viên tướng Triều đình uy phong như Quan Công ghìm cương dừng quân ở đầu đường. Cuối chân đê, bụi cuốn mịt mù, một đoàn người dần dần rõ mặt. Nhận ra Vành, Cúc phóng ngựa lao tới, Vành cũng huơ đao đét vào mông ngựa xông lên. Ngọn siêu đao trong tay Cúc như giao long uốn khúc. Lưỡi liễu đao trong tay Vành vun vút tựa phong ba. Binh khí chạm nhau loáng ánh chiều như sấm sét.
Hai con ngựa chiến cứ dạt ra rồi lao vào. Mãi trăm hiệp chưa phân thắng bại. Cuối cùng Cúc được thế nhoài người đâm mạnh, Vành ngã người chụp lấy cán siêu đao giật mạnh. Thuận tay, Vành chém xả vào vai Cúc. Viên tướng Triều đình gục trên mình ngựa. Đám binh không đánh mà tan.
Tin phò mã Lê Mậu Cúc tử trận về đến kinh thành như một đám mây đen ám ảnh các tướng lĩnh. Minh Mệnh chuẩn tấu tiễu phạt nghịch Vành, Bắc thành cử Trương Phúc Đặng thống lĩnh đại binh ra đi.
Được tin Vành nai nịt gọn gàng, đem quân đến trước trong khi Đặng chưa kịp dựng trại điểm quân.
Thống chế Trương Phúc Đặng cầm chắc cây côn sắt trong tay chằm chặp nhìn Vành. Quả là hổ tướng, mắt xếch, trán vồ, đôi quai hàm bạnh ra như chữ điền viết thảo. Trong đầu Đặng nảy ra một âm mưu. Đang đánh nhau chừng mười hiệp, Đặng chỉ đỡ gạt ra vẻ bị động rồi bỏ chạy. Vành siết cương đuổi theo. Hét lên một tiếng, Đặng dùng hết sức bình sinh quay người phóng thẳng cây côn vào mặt Vành. Thế thập tử nhất sanh lại được đổi ngay cho kẻ thượng phong. Nhưng … người thủ lĩnh nghĩa quân nhanh nhẹn như một con vượn. Tụt sang một bên mình ngựa, Vành tránh được ác chiêu của địch. Con tuấn mã của Vành thay chủ hứng trọn ngọn côn. Theo đà phi, nó lộn vòng mang trên lưng cả vị chủ tướng, và hí lên, giãy đành đạch hất vị chủ tướng ra xa, rồi ngã gục. Bộ hạ của Vành giương cung chực bắn Phúc Đặng giải vây cho chủ nhưng Vành loạng choạng đứng dậy rồi hét lớn: “dừng tay!” thì ra thủ lĩnh của họ muốn cho kẻ địch biết rằng: “kia tám lạng đây cũng nửa cân”. Hiểu ý, từ đám đông, Vò cặp nách những chiếc lao đằng ngà chạy ra.
Vừa chạy Cu Vò vừa hộc lênh, ném lao cho chủ. Dang rộng hai chân, Vành bắt lấy hai ngọn lao phóng mạnh về phía trước. Đúng lúc đó Đặng cũng xông lên, ngực hứng trọn hai ngọn lao. Đám quan quân rú lên. Nhưng Đặng vẫn tỉnh như không. Rướng người đứng lên trên bàn đạp, Đặng xòe tay bắt lao một cách nhẹ nhàng. Nhưng không còn kịp nữa, ngọn thứ ba đã ngập quá nửa vào ngực viên thống chế họ Trương.
Thanh thế nghĩa quân ngày một lan rộng. Dân cày các nơi gác ách theo về. Người ta đồn rằng vua Ba Vành là một điềm trời ứng với ngôi sao Tua Rua năm ấy. Thế cho nên bộ tướng của Ba Vành là những người thần thông quảng đại, nào là vị sư có tài hô phong hoán vũ, nào là những viên tướng người Mường biến cọp thành quân, còn vị chỉ huy thủy binh có thể sống 3 ngày 3 đêm dưới nước. Riêng Ba Vành, hai hàm răng, mỗi hàm liền một phiến có sức mạnh đội trời. Tên tuổi Ba Vành trở thành nỗi nhức nhối cho triều đình nhà Nguyễn.
Một ngày giữa năm 1825, Minh Mệnh triệu tập Viện Cơ Mật. Nhà vua quyết định sẽ thân chinh tiễu phạt giặc Ba Vành. Nhưng nghĩ đến uy danh của Vành, Ngài bèn giao việc này lại cho Tiền quân thống quản tiệp kính thập cơ Phạm Văn Lý làm thống tướng và Binh bộ thị lang Nguyễn Công Trứ làm tham tán, Thủy quân đô Phan Bá Hùng chỉ huy 8 đạo binh thuyền, Nghệ An thống chế Nguyễn Văn Hiến làm Sơn Nam kinh lược, Hình Bộ thượng thư Hoàng Kiêm Xán, Binh Bộ thị lang Thân Văn Duy làm tham biện kinh lược sự vụ. Muốn trị đám giặc cỏ ngày nào giờ phải dùng đến bộ sậu tướng tài như vậy.
Vành ra vào không yên. Thà là cứ sống mái với nhau một phen, Vành nào sợ. Ngặt một nỗi đã mấy lần khiêu chiến, Lý đều né tránh. Vành thì quen lối đánh trực diện mà bây giờ phải bó gối thu mình trong giang sơn bé nhỏ này bởi thủy bộ đều bị vây kín. Đất Trà Lũ bỗng hóa chật hẹp đối với Vành.
Chống tay lên đốc gươm, Vành đứng bất động, đôi lông mày xếch ngược, căng mắt nhìn xa xăm. Đôi mắc sắc ấy bỗng lóe lên những tia sáng lạ lùng. Ngay đêm hôm ấy, được lệnh của Ba Vành, nghĩa quân đã khơi một con ngòi lớn từ sông Cát Giang thông với sông Ngộ Đồng. Bằng con đường này họ sẽ tập kích, phá vòng vây của địch.
Đêm sau….
Tất cả đều cởi trần, trên thân chỉ mang độc chiếc khố bằng vỏ thân cây chuối, nghĩa quân bất ngờ đánh úp binh Triều. Con ngòi mà họ khơi đã chuyển màu đỏ máu. Nhưng quân Triều đình vẫn trùng vây phủ. Ba Vành bị thương trong đám loạn tiễn. Cuộc khởi nghĩa bị nhận chìm trong biển máu…
Ở Hoàng cung, Minh Mệnh phấn chấn hẳn ra khi nghe tin quân sĩ đang trên đường khiêng Vành về Kinh chịu tội. Tin cuối mà ông ta nhận được là Ba Vành đã tự mổ bụng trên đường đi. Bất giác nhà vua đứng thẳng dậy, mặt hướng về Nam trong ánh mắt lộ rõ niềm thán phục.
Năm ấy là năm Đinh Hợi, đời Minh Mệnh thứ 8.
NQD
Tài Liệu Tham Khảo
Đại Nam thực lục
Những vì sao đất nước