Trích “Nghiên cứu võ thuật” tháng 2/90.
 |
| Hai Bà Trưng |
Kỳ thi võ sớm nhất mà sử sách còn ghi lại là kỳ thi vào năm 40 sau Công nguyên, vào thời Hai Bà Trưng. “… Nữ tướng Lê Chân thường tổ chức các cuộc thi võ và diễn võ, trong đó môn vật là hay hơn và trọng dụng hơn … Nữ tướng thường tổ chức về môn võ ấy 2-3 ngày để tuyển lựa võ sĩ”.
Qua đoạn sử này, ta cũng thấy rằng ngoài các môn võ đấm đá và binh khí, còn có môn vật cũng xuất hiện rất sớm, ít ra cũng trước thời Hai Bà Trưng.
Hai Bà Trưng đã giành lại độc lập cho đất nước, nhưng chẳng bao lâu sau, hai Bà lại thất trận, đất nước lại rơi vào ách đô hộ của nhà Hán. Từ trước và sau Hai Bà Trưng, đất
nước ta đã nhiều lần bị Trung Quốc đô hộ, rồi chiến tranh, rồi lại giành độc lập, rồi chiến tranh, rồi bị chiếm … cứ thế, biết bao lần. Mỗi lần trải qua một cuộc chiến tranh, tổ tiên ta lại học hỏi nhiều đòn thế chiến đấu mới lạ của địch. Và trong các thời kỳ đô hộ, tổ tiên ta thừa thông minh để thấy rằng ta phải học hỏi thêm những môn võ Trung Hoa trong ý hướng: “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Môn võ riêng của dân tộc ta vì vậy ít nhiều chịu ảnh hưởng của võ Trung Hoa.
Đến đời nhà Thanh bên Trung Quốc, các tổ chức chính trị mưu lật đổ vương triều như Thiên Địa Hội, Bạch Liên Giáo, Nghĩa Hòa Đoàn … đã giong thuyền chạy sang tỵ nạn ở nước ta, phần đông cập bến ở Nam Bộ. Họ là những tướng tá, võ sư tài giỏi, nên đã đem các môn phái võ thuật Trung Hoa truyền sang phần đất mới phía Nam của nước ta. Đông nhất là người Triều Châu. Điển hình là Mạc Cửu, ông chở binh qua chiếm đảo Phú Quốc, rồi thừa dịp xứ Chân Lạp đang loạn lạc, đổ bộ chiếm vùng Duyên Hải từ Hà Tiên đến Mũi Cà Mau. Năm 1708, ông đem dâng phần đất này lên Chúa Nguyễn. Triều đình bèn lập thêm trấn mới là Hà Tiên và phong Mạc Cửu làm Tổng Binh. Từ đó, họ Mạc truyền nhau cai trị Hà Tiên đến mấy đời.
Về sau, một số người Hoa tụ tập về Chợ Lớn (một khu của Sài Gòn cũ) để làm ăn buôn bán, nhiều người rất giỏi võ, truyền dạy cho cả người Việt Nam.
Ở Trung bộ cũng có những hội viên trong nhóm phản Thanh phục Minh sang lánh nạn, chẳng hạn võ sư Trinh Tống Quân (thuộc Hồng Môn Thiếu Lâm Bắc phái) qua Hội An năm 1920, sinh sống bằng nghề bán thuốc Sơn Đông Mãi võ, thu nhiều học trò cả Hoa lẫn Việt.
Sau Thế chiến thứ II, rất nhiều võ sư Trung Hoa theo chân đoàn quân của tướng Lư Hán vào Việt Nam giải giới quân Nhật. Nhiều người đã ở lại Việt Nam để dạy võ, trong đó có ông Tế Công, dạy môn Vịnh Xuân ở miền Bắc nước ta, và từ năm 1955 vào dạy ở miền Nam.
Cũng có một số người Việt Nam qua Trung Hoa học võ rồi trở về truyền bá, như trường hợp ông Hàn Bái (1889-1928) và võ sư Đoàn Tâm Ảnh (năm nay 90 tuổi, vẫn dạy võ và viết sách).
(Còn tiếp)