Võ cổ truyền Việt Nam (3).

12-05-2008 12:14

 

Trích “Nghiên cứu võ thuật” tháng 2/90.

Phật giáo cũng là một chiếc xe chở các môn võ nước ngoài du nhập vào Việt Nam. Theo lịch sử Phật giáo, đạo này vào Việt Nam theo ba chiều: Trên xuống (qua biên giới Việt – Trung), dưới lên (qua đường biển phía Nam), và băng ngang (từ đường bộ phía Tây). Sử sách ghi năm 159 là năm đầu tiên người nước Thiên Trúc (Ấn Độ cổ đại) đến miền Trung nước ta bây giờ. Nhưng cụ thể hơn cả là nhà sư Ấn Độ tên Khưu Đà La đến tại Dâu (tỉnh Hà Bắc bây giờ) lập nên sơn môn vào khoảng năm 187 đến 189. Đồng thời, Phật giáo Trung Hoa cũng đến nước ta, phát triển trong giới trí thức từ đời Đinh (968-980), đào tạo một số cao tăng, thành lập những tông riêng biệt như tông Thảo đường đời Lý, tông Trúc Lâm đời Trần …

Thời cổ xưa, đường xá chưa có, núi rừng hiểm trở đầy thú dữ và giặc cướp, những nhà sư này lại đơn thân độc mã lặn lội qua đây, cho nên họ phải là những người võ nghệ tuyệt luân, ý chí cương cường mới đến được nước ta. Theo truyền thống của nhà chùa, võ thuật là một môn trong chương trình tu học, bởi vậy, Phật giáo đã mang vào nước ta ảnh hưởng của võ Trung Hoa, võ Ấn Độ và võ Tây Tạng.

           
 

Thời đại chịu ảnh hưởng Phật giáo nặng nhất trong lịch sử nước ta là triều đại nhà Lý. Từ vua đến quan lại và tướng lãnh đều là những Thiền sư hay Phật tử uyên thâm Phật pháp, võ công cao cường, binh thư đồ trận tuyệt luân. Họ là những người đầu tiên mở mang bờ cõi về phía Nam.

*

Tại Trung bộ nước ta, võ Bình Định là tiêu biểu hơn cả. Đoạn dưới đây thử tìm hiểu võ Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của các dòng võ nào để tạo ra nền võ học “Tây Sơn gia phái” còn rực rỡ cho đến ngày nay.

 

Vào thế kỷ 17, trong thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, 5 lần quân Nguyễn tiến quân ra Bắc, rồi lại rút về Nam, bắt mang về nhiều tù binh và của cải. Trong số tù binh đó có Hồ Thế Viêm ở Nghệ An, bị bắt đưa vào miền bìa rừng Tây Nguyên. Đó là ông tổ 4 đời của Nguyễn Huệ.

 

Thủa nhỏ, Nguyễn Huệ (Nguyễn là họ mẹ) tên là Hồ Thơm. Ba anh em học ông Chảng (tên thật là Đinh Văn Nhưng) ở Đập Đá, An Nhơn.

      
 

Tổ tiên của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã góp công khai phá ấp Tây Sơn, đây là đất nước cũ của người Chiêm Thành, một giống dân có một quá khứ oai hùng và rất giỏi võ, đã từng gây nhiều cuộc chiến tranh với nước ta vào đời Lý, Trần. Tiếng tăm của Chế Bồng Nga, Chế Củ đã một thời vang lừng, thành Đồ Bàn (ở giữa hai huyện An Nhơn – Phù Cát, tỉnh Bình Định) và những ngôi tháp Chàm là những di tích còn sót lại của một vương quốc hùng mạnh.

Vào thời Nguyễn Huệ, vùng này đã là nơi quy tụ nhiều anh hùng hào kiệt có trình độ võ công cao, các hình thái võ thuật đa dạng. Trước hết, đó là những người đã đi khai phá đất hoang, rừng rậm, tất nhiên phải là những tay giỏi võ mới sinh cơ lập nghiệp được ở nơi đầy thú dữ và giặc cướp này. Thứ hai, là các anh hùng hào kiệt trốn tránh Triều đình, về đây ẩn thân, chờ thời cơ an bang tế thế. Thứ ba, các tay giang hồ tìm nơi sơn dã để ẩn mình. Thứ tư, các thổ hào đại phú, có nhiều trang trại, phải giỏi võ và giỏi phòng bị mới chống lại được trộm cướp. Thứ năm, các lái buôn người Hoa. Thứ sáu, nghĩa sĩ của các tổ chức phản Thanh phục Minh như Thiên Địa hội, Bạch Liên giáo, Trung Nghĩa đoàn, Nghĩa Hòa đoàn … (viên tướng Trung Hoa, Lý Tài làm phó cho Nguyễn Huệ trong trận đại phá 2 vạn quân Nguyễn do Tống Phúc Hiệp chỉ huy). Thứ bảy, Các tù trưởng và các toán quân thiện chiến của các dân tộc Ba Na, Xê Đăng, Gia Rai, … Thứ tám, trong quá khứ, đất Quy Nhơn là trung tâm võ thuật của Chiêm Thành. Những đặc sản và hàng hóa quý của vùng này muốn đem bán ra phía Bắc và phía Tây đều phải vượt qua những núi đèo hiểm trở đầy thú dữ và trộm cướp, cho nên muốn mang hàng đi bán đều phải tinh thông võ nghệ.

*

Bình Định vốn là đất có truyền thống dụng võ. Anh em Tây Sơn đã chắt lọc tinh hoa của tất cả các dòng võ do bao nhiêu thành phần trên đóng góp, gạn lọc tinh hoa, đúc kết, hệ thống hóa và phát triển thành một võ phái mới cực kỳ hiệu quả trong chiến đấu, đó là võ phái Tây Sơn. Về sau, võ phái Tây Sơn là thành tựu tổng hợp của ba dòng gia truyền: Hồ (dòng chính của Tây Sơn), Trần (dòng Trần Quang Diệu) và Bùi (dòng Bùi Thị Xuân).

Nền võ học Tây Sơn sau này lại phát sinh thêm một dòng võ mới ở Nam Bộ, đó là Võ Lâm Tân Khánh – Bà Trà (nay là xã Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên và xã Bình Chuẩn, huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé).

 

Ngược dòng lịch sử, năm 1698, chúa Nguyễn ở Thuận Hóa sai Nguyễn Hữu Cảnh đem binh vào giúp vua Chân Lạp dẹp loạn, lập ra hai trấn tại Biên Hòa và Gia Định, rồi di dân Thuận Quảng vào lập làng xã, khai thác ruộng vườn. Đây là vùng đất hoang vu, rừng rậm, đầy thú dữ và trộm cướp. Môn võ của tổ tiên người Việt đã bao đời dùng để dựng nước và giữ nước nay lại theo chân những con người can trường, mạo hiểm đi mở mang bờ cõi. Môn võ Việt Nam từ phần đất phía Bắc lại được dịp hòa lẫn vào những môn võ của nhóm người Trung Quốc phản Thanh phục Minh và của người dân Chân Lạp bản địa để tạo thành một môn tổng hợp cho người dân đi khai phá.

 

Đến đầu Thế kỷ 19, sau khi lên ngôi, Gia Long ra sức trả thù vua tôi nhà Tây Sơn. Gia đình một bộ tướng Tây Sơn đã chạy vào Tân Khánh để lánh nạn. Con cháu của gia đình đó có một cô con gái tên là Trà chiêu mộ nghĩa binh chống lại Triều đình (Tự Đức) năm 1850 tại Truông Mây, một vùng rừng rậm cạnh làng Tân Khánh. Võ Tây Sơn đã đóng góp vốn liếng của mình cho môn võ của vùng đất mới Tân Khánh, làm cho môn võ mới này thêm phong phú và hiệu quả. Từ đó, môn võ mới được gọi là “Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà”.

 

Bàn tay của những người can trường, mạo hiểm đã phá rừng rậm, đồng hoang, làm ruộng, lập vườn, tạo nên những làng xóm, gia trang trù phú. Các nhân vật giỏi võ hành hiệp đó đây để trừ gian diệt bạo, các thầy võ được các nhà giàu rước về dạy võ cho con cháu, tá điền để phòng chống trộm cướp. Vì việc truyền dạy hoàn toàn diễn ra ở thôn quê, trong các trang ấp, nên ngành võ thuật này được gọi là “võ vườn”, thường được gọi bằng một tên đất, như Tân Khánh, Thất Sơn chẳng hạn …