BS Phùng Trung Hùng
Thuyết trình tại Đạo đường Đakao 10, 17.07.94
Trong các đòn thế của võ học, các yếu tố sợ hãi, đau và mất thăng bằng là những thành phần quan trọng hơn cả.
Khi ta xỉa ngón tay vào hai nhãn cầu của một người, tạm gọi là đối thủ, thì y tức thời phản ứng bằng cách nhắm mắt theo phản xạ tự nhiên. Yếu tố mối nguy hiểm, nỗi đe dọa gây ra sự khiếp đảm và như thế đối thủ rơi vào thế hạ phong và dễ dàng bị mất kiểm soát, bị khống chế. Đây là cơ sở cho việc sử dụng Atemi trong Aikido tung một đòn Atemi để gây hoang mang, hoảng loạn… mà không cần làm tổn thương uke.
Yếu tố thứ hai trong các chiêu thức, đặc biệt là các đòn cầm nả của Aikido là gây đau, dẫn tới nhất thời làm tê liệt một phần thân thể. Do đó, ta cần tìm hiểu cơ chế đau của thân thể, ở mức nào cảm giác đau bắt đầu, tới ngưỡng nào thì người bị đau tự vệ bằng cách đi vào vô cảm, vô thức.
Yếu tố thứ ba là ý thức về mình trong không gian: cảm giác thăng bằng. Trong Aikido, các đòn ném (nage waza) chủ yếu dựa vào cảm giác này để thi triển. Môn sinh sử dụng các kỹ thuật để đưa đối thủ vào tình trạng mất thăng bằng và ném đối thủ. Cơ chế giữ thăng bằng cho cơ thể cần được hành giả Aikido thấu triệt, để việc thi triển kỹ thuật đạt được hiệu quả cao.
Hai bài sau đây, liên quan đến cảm giác đau và mất thăng bằng, được bác sĩ Phùng Trung Hùng trình bày trong một cuộc hội thảo - huấn luyện của các võ sư và huấn luyện viên Aikido tại Đạo đường Tenryu Aikido Quận I năm 1994.
Aiki-Viet
CẢM GIÁC ĐAU
Cảm giác đau là một kinh nghiệm mà hầu hết mọi người đều nếm trải trong cuộc sống hằng ngày. Loại cảm giác này có thể chỉ ở mức độ khó chịu làm giới hạn hoạt động bình thường nhưng cũng có thể đạt tới cường độ lớn làm đình trệ hoạt động và gây khó chịu dữ dội.
Tuy nhiên ở bất cứ cường độ nào thì cảm giác đau cũng là một thông điệp của thiên nhiên để báo động cho biết cá thể đã ở vào một vị trí nguy hiểm và có thể nặng nề nhất là chấm dứt sự sống của cá thể đó.
Về phương diện thần kinh học, cảm giác đau được định nghĩa là một phản ứng của cá thể trước những đe dọa đến sự toàn vẹn của chính cá thể đó. Từ định nghĩa trên chúng ta thấy rằng khi bị đe dọa đến sự toàn vẹn của thân thể một cá nhân nhất định phải phản ứng và phản ứng cùng một lúc theo hai chiều hướng: chiều hướng ngoại giới và chiều hướng nội tại.
Chiều hướng ngoại giới: cá thể có thể rút lui một phần hay toàn bộ cơ thể ra khỏi vùng tạo ra cảm giác đau, có thể là một hình thái phản ứng nhằm thủ tiêu nguyên nhân gây ra cảm giác đau như một người lấy tay ra khỏi vật gây bỏng hay đánh trả trong trường hợp bị tấn công.
Chiều hướng nội tại: bao gồm toàn thể những phản ứng hóa học phức tạp diễn ra trong cơ thể nhằm giúp cơ thể thích ứng được với tình trạng đau. Tuy nhiên cơ thể cũng có thể phản ứng hoàn toàn sai lạc dẫn đến cái chết của nó như trong trường hợp nạn nhân bị gãy xương đùi khi di chuyển sai cách có thể làm cực kỳ đau đớn và gây phản xạ ngưng tim đột ngột, hay trong trường hợp nạn nhân bị tấn công đúng vào vị trí Kachikaké có thể gây chết đột ngột do phản ứng ngưng hô hấp và ngưng tim mà những biện pháp cấp cứu luôn luôn hết sức khó khăn và chỉ có thời gian giới hạn từ 4-6 phút.
Như vậy với phản ứng đối với cảm giác đau chúng ta thường hay đối đầu với những trường hợp không thể dự đoán trước được mà bi thảm nhất là cái chết.
Mặt khác chúng ta có thể gặp lại một loại phản ứng không hoàn toàn tâm lý là bị ngất xỉu, trong đó toàn bộ chức năng của thần kinh cao cấp tạm thời ngưng trệ chỉ còn giữ lại những chức năng sinh tồn như hô hấp, tuần hoàn. Loại phản ứng này xem ra có vẽ như tiêu cực nhưng cũng vẫn là phương cách để giải thoát ngay tức khắc nạn nhân ra khỏi cảm giác đau. Chúng ta cũng còn gặp kiểu phản ứng này khi một nạn nhân gặp tình huống bị khiếp sợ tột độ hay chán nản tột độ. Tâm lý học mô tả tình huống này là sự hư vô hóa thực tại để giúp cá thể chạy trốn một điều mà bản thân y không thể chịu đựng nổi.
Một điều cần phải nhấn mạnh là cảm giác đau còn có thể để lại hậu quả kéo dài đối với nạn nhân sau khi chính cảm giác đau đã giảm cường độ hoặc biến mất. Hậu quả thường thấy nhất có thể gây loét dạ dày và tâm lý sợ hãi với cái đau (miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời).
Trên bình diện nhân bản hành vi gây đau cho tha nhân phải được xem xét dưới khía cạnh đạo đức và luật pháp. Một hành vi gây đau cho kẻ khác phải được biện minh với những lý lẽ minh bạch và hợp lý, vì hành vi đó nếu không hẳn là hành vi xâm phạm đến thân thể kẻ khác theo quy định của luật pháp thì cũng là một hành vi phản đạo đức vì gây ra những đau đớn không cần thiết cho đồng loại nếu không được hướng dẫn bởi quy tắc đạo đức. Một điều tuyệt diệu là Tổ sư khai sáng môn phái Aikido đã đưa ra những quy tắc chặt chẽ nhằm hướng dẫn môn đồ tuân thủ theo đạo đức và hết sức hợp lý về mặt khoa học trong việc tránh tối đa gây ra đau đớn cho kẻ khác.
Bây giờ chúng ta sẽ khảo sát sự hình thành của cảm giác đau trên khía cạnh thần kinh học và hóa học cũng như những hệ thống giảm đau tự nhiên của cơ thể.
I. TỔ CHỨC THẦN KINH CỦA CẢM GIÁC ĐAU
Có thể nói rằng cảm giác đau là một sản phẩm của hệ thần kinh và sự hiện hữu của cảm giác đau chỉ có trong hệ thần kinh chứ không tại bất cứ một cơ quan nào khác trên cơ thể. Nếu hủy diệt bộ máy thần kinh của cảm giác đau thì sự phá hủy bất kỳ cơ quan nào của cơ thể cũng không tạo ra cảm giác đau.
Tổ chức đầu tiên của cảm giác đau là những dây thần kinh nhỏ nằm rải rác khắp nơi trong cơ thể từ da, khớp xương, cho đến những cơ quan nội tạng như dạ dày, ruột, thận, v.v… những đầu giây thần kinh này được gọi là thụ cảm đau (pain receptor) và được tập họp lại thành những bó sợi để cuối cùng được đưa vào tủy sống (spinal cord) qua rễ sau, chỉ có cảm giác vùng trước mặt là không dẫn về tủy sống mà qua dây thần kinh sọ số 5.
Tủy sống bắt đầu từ cổ kéo dài đến lưng, tận cùng trên thắt lưng khoảng 10-15 cm. Đây là trạm trung chuyển của tất cả cảm giác cơ thể, tủy sống được che chở bởi thân các đốt xương sống, các màng bao bọc và một chất dịch lỏng gọi là dịch não tủy có tác dụng về mặt cơ học như một môi trường để tủy sống có thể di chuyển tương đối mà không va chạm trực tiếp với đốt xương sống vốn là một tổ chức cứng rắn hơn nhiều.
Những thụ cảm đau đi về trên cùng một rễ sau có thể bắt đầu từ những cơ quan rất xa nhau nhưng khi đi vào trong tủy sống có thể cho cảm giác đau lẫn lộn từ cơ quan này tới cơ quan kia. Ví dụ như đau dạ dày có thể gây cảm giác đau ngay dưới xương ức, viêm ruột thừa cho cảm giác đau vùng góc bụng dưới bên phải vì cảm giác từ những vùng này đi về trên cùng một rễ sau và đi về cùng một vùng tủy.
Như vậy, bất cứ một vùng cảm giác nào của cơ thể cũng sẽ đi theo một đường dây thần kinh nhất định mà người ta đã xác định và vẽ thành bản đồ của các vùng cảm giác. Những hình vẽ bên trái tương ứng với các đoạn tủy sống mà vùng da có các thụ cảm đau đi vào; hình vẽ bên phải là tên của các dây thần kinh cảm giác nằm ngoài da. Một dây thần kinh cảm giác có thể đi vào nhiều đoạn tủy khác nhau.
Khi đi vào trong tủy sống những đường thần kinh cảm giác sẽ bắt chéo và sau đó sẽ đi lên não để cho cảm giác đau vì vị trí của cảm giác đau đó (H.6 và H.7). Lưu ý đường vẽ “a” trong H.6 là một tổ chức có chức năng làm giảm bớt cường độ của cảm giác đau, khi áp dụng những cách xoa bóp giảm đau người ta đã làm tăng hoạt động của tổ chức này. Bản chất chủ yếu của tổ chức này liên quan trực tiếp đến việc duy trì thăng bằng của sinh vật trong tình trạng không có sự kiểm soát thăng bằng của thị giác. Một khi tổ chức này kém hữu hiệu trong việc duy trì thăng bằng thì đồng thời khả năng làm giảm cường độ đau cũng giảm bớt một cách rõ rệt. Vận tốc của luồng thần kinh dẫn truyền cảm giác là 3m/giây trong khi tổ chức “a” có vận tốc dẫn truyền 12m/giây, nhanh gấp 4 lần luồng thần kinh cảm giác đau. Trong những đòn thế Aikido, một khi xuất hiện cảm giác đau là lúc mất khả năng duy trì thăng bằng và càng mất thăng bằng thì càng đau nhiều hơn. Điều này hoàn toàn đúng với hệ thống khớp vì ngoài chức năng cử động, các khớp có nhiệm vụ phối hợp để tạo thế cân bằng.
II. PHẢN ỨNG HÓA HỌC CỦA CẢM GIÁC ĐAU
Cảm giác đau được hình thành từ một kích thích (hóa học, cơ học, điện…). Kích thích này tạo một chuỗi phản ứng hóa học để hình thành các chất Histamine, Serotonin, Bradikinin và Phostagladin E tại thụ cảm đau. Khi đã hình thành, các chất này tạo ra một luồng thần kinh dẫn truyền cảm giác đau từ thụ cảm đau vào tủy sống. Tại đây trong tủy sống sẽ phóng thích các chất hóa học có tên là chất P để hướng dẫn luồng thần kinh đưa lên não. Những phản ứng hóa học này xảy ra rất nhanh từ vài phần ngàn giây đến vài phần trăm giây.
III. PHÂN TÍCH CẢM GIÁC ĐAU
Một cảm giác đau bao giờ cũng có hai thành phần rõ rệt:
Cảm giác nhanh: là cảm giác của sự va chạm có thể xác định rõ rệt vị trí và chấm dứt ngay sau khi tiếp xúc với kích thích.
Cảm giác chậm: là cảm giác đau buốt, nóng bỏng rát mà sự xác định vị trí đôi khi khó khăn vì sự lan rộng và tiếp tục tồn tại một thời gian sau khi không còn tiếp xúc với kích thích. Đây là cảm giác đau đích thực mà tất cả những hậu quả đã được đề cập ở trên.
Chúng ta hãy lấy ví dụ như sau để minh họa: khi ngón tay bị cắt bằng một lưỡi dao, cảm giác nhanh là cảm giác tiếp xúc với lưỡi dao, cảm giác chậm là cảm giác đau buốt sau đó.
IV. CÁC PHUƠNG THỨC LÀM GIẢM ĐAU
Một cách tổng quát có hai phương thức làm giảm đau là phương thức nội tại của cơ thể và phương thức ngoại lai.
Phương thức nội tại
Là cách vận dụng những hệ thống chống đau tự nhiên của cơ thể, đơn giản nhất là thể loại xoa nhẹ vùng đau hay xoa bóp. Cách này vận dụng đến tổ chức “a” (H.6) phức tạp hơn là châm một số vùng huyệt của cơ thể để kích thích tạo ra Enolaphine trong hệ thần kinh, chất này sẽ không cho phép tiết ra chất P làm mất cảm giác đau tuyệt đối như là thuốc phiện (châm cứu để gây tê trong phẩu thuật). Cần lưu ý rằng dùng các loại dầu nóng có méthylsalicylate để xoa bóp các khớp khi đau cũng là cách vận dụng tổ chức “a” và tạo cảm giác nóng giả để lừa cảm giác đau.
Phương thức ngoại lai
Dùng dược phẩm để làm giảm đau như thuốc tê, thuốc giảm đau, thuốc phiện.
V. KẾT LUẬN
Hiện tượng đau rất bình thường trong đời sống nhưng lại hết sức phức tạp trong khoa học. Mỗi người có một khả năng chịu đau hoàn toàn khác nhau. Người ta đồng ý rằng nếu thường xuyên chịu đau thì khả năng này có thể gia tăng khả năng chịu đau nhưng không ngăn chặn được những hệ quả của cảm giác đau. Mặt khác làm những sự tàn phá trên vùng đau sẽ gia tăng (vì chấn thương). Điều này thường xảy ra trong khi tập luyện mà đôi khi sự giảm đau được đánh giá như là một sự tiến bộ trong học tập, hậu quả chỉ có thể nhận thấy trong nhiều năm. Đó có lẽ là vấn đề cần được quan tâm nhất và cần được đánh giá kỹ lưỡng nhất.
MẤT THĂNG BẰNG
I. ĐA GIÁC ĐẾ
Bất cứ một sinh vật nào trong thiên nhiên, để có thể sinh hoạt bình thường, đều phải có một bộ dáng (posture) nhất định để thích hợp với đời sống và tập tính của nó. Con người cũng không thoát khỏi thông lệ này. Chúng ta có thể quan sát một con mèo, một con chim đang bay để nhận ra một điều thật hiển nhiên là động tác leo trèo của mèo hay động tác bay của chim đều chứa đựng yếu tố tuyệt vời là sự thăng bằng. Nếu yếu tố thăng bằng biến mất, một sinh vật sẽ hoàn toàn mất định hướng về vị trí của nó trong không gian. Và nói đến thăng bằng là đương nhiên thừa nhận vai trò của trọng lực (sức hút của trái đất). Không có trọng lực cũng không có vấn đề thăng bằng.
Trở lại con người, với dáng đứng thẳng trên hai bàn chân, là một sinh vật có khả năng duy trì thăng bằng kém nhất trong thiên nhiên. Người ta biết rằng để có thể đứng vững được, trọng tâm của con người phải nằm trong diện tích giữa hai bàn chân và con đường là hợp lực của tất cả những điểm chiếu thẳng xuống đất từ bề mặt của thân thể trong thế đứng. Diện tích này được gọi là đa giác đế.
Quan sát vị trí của hai chân chúng ta sẽ thấy rằng đa giác đế luôn luôn thay đổi diện tích. Khi nào đa giác đế nhỏ đi thì trọng tâm dễ lọt ra ngoài, lúc đó con người mất thăng bằng và có thể ngã. Người ta cũng biết rằng bất kì đa giác đế ở diện tích lớn hay nhỏ thì ở con người một chiều hướng tác động dễ làm mất thăng bằng nhất xảy ra ở trên đường trung trực của đoạn thẳng nối liền hai ngón chân cái theo chiều từ phía sau lưng đến trước mặt.
Để có thể giữ được thăng bằng, điều đơn giản là điểm chiếu thẳng của trọng tâm nằm trong đa giác đế. Thiên nhiên đã trang bị cho cơ thể con người rất nhiều phương tiện phức tạp để duy trì trạng thái này mà chúng ta sẽ lần lượt khảo sát sau đây.
II. CÁC HỆ THỐNG LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC DUY TRÌ THĂNG BẰNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA CHÚNG
Sự thăng bằng của con người thường được khảo sát ở hai tư thế: tư thế tĩnh và tư thế động. Trong hai loại tư thế này, tất cả hệ thống giữ thăng bằng đều tham gia hoạt động nhưng mức độ khác nhau và vì thế dễ gây những phản ứng cũng hoàn toàn khác nhau của cơ thể.
Hệ thống cơ, xương, khớp
Đây là hệ thống hiển nhiên dễ nhận thấy nhất và cũng là hệ thống chung cuối cùng nhận sự điều hành từ những cơ quan khác. Để giữ được thăng bằng một khớp ở chân, chẳng hạn như khớp gối, phải giữ được một tư thế nhất định tương ứng với một vị trí nào đó của toàn cơ thể, và ngay khi toàn cơ thể thay đổi vị trí thì khớp gối cũng có một tư thế khác thích hợp. Sự hoạt động này đòi hỏi cơ quanh khớp gối phải hoạt động co giãn thích hợp với từng vị trí. Hoạt động này có được nhờ những loại tế bào thần kinh cảm giác nằm ngay tại các gân ở đầu cơ và trong bao khớp. Nếu bị gây đau thì những cơ chế này hoạt động kém hoặc có khi ngưng hoàn toàn hoạt động của chúng. Các khớp và cơ này quan trọng đặc biệt ở tại xương sống, vì đây là phần dài nhất trong cơ thể và sự thay đổi vị trí của cột xương sống có ảnh hưởng đến trọng tâm của toàn cơ thể.
Cảm giác của lòng bàn chân
Thể hiện dưới hai dạng cảm giác là cảm giác đau và cảm giác áp suất. Mỗi khi cảm giác này giảm hay mất thì toàn cơ thể sẽ đi vào trạng thái mất thăng bằng dễ ngã. Thí dụ người bị bệnh tiểu đường bị biến chứng viêm thần kinh thường làm giảm cảm giác ở lòng bàn chân, rất dễ bị mất thăng bằng; người bệnh hansen (cùi, hủi) khi mất cảm giác ở lòng bàn chân sẽ có dáng đi loạng choạng hay có khi không thể đi được.
Hệ thống cơ cổ, gáy
Hệ thống cơ cổ, gáy có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra sự co cứng của các bắp cơ ở tay và chân. Khi quay đầu về một bên, cơ cổ, gáy ở bên kia sẽ co cứng và đồng thời điều khiển sự co cứng cơ của cả hai tay và hai chân. Ngược lại, ngửa cổ sẽ có khuynh hướng làm mềm cả hai tay và hai chân.
Hệ thống tiền đình trong tai
Hệ thống này nằm trong xương sọ có cấu tạo gồm những vòng bán nguyệt nằm trong những mặt phẳng khác nhau gọi là mặt phẳng ngang, mặt phẳng trên và mặt phẳng sau.
Trong những vòng này chứa đựng một chất dịch lỏng gần giống như bạch huyết. Hệ thống này có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong việc duy trì thăng bằng và định hướng trong không gian. Khi cơ thể di động, chiều hướng của sự di động có thể làm một hay nhiều vòng bán nguyệt trở nên tăng hoạt động tùy theo mặt phẳng xảy ra chuyển động. Khi cơ thể chuyển động, toàn khối những chất dịch lỏng sẽ di chuyển ngược lại do quán tính. Sự di chuyển của dòng nội dịch này gây ra cảm giác chóng mặt, buồn nôn, trong trường hợp di động lâu và nhanh. Nhưng điều đáng nói là những cơ bắp ở hướng đối diện với hướng chảy của dòng nội dịch bị nhão và gây ngã về hướng đó (hướng ngược với chiều di chuyển của dòng nội dịch).
Thị giác
Nhìn và thấy cũng là một phương tiện điều chỉnh thăng bằng. Khi tất cả các hệ thống khác hoạt động bình thường, chỉ cần đi vào bóng tối hoặc bị che mắt thì tình trạng thăng bằng bị giảm sút rõ rệt. Những người bị mất cảm giác ở lòng bàn chân có thể nhờ thị giác để bù lại thăng bằng, một khi bị mất luôn thị giác hầu như họ không có khả năng đứng vững.
Tất cả những hệ thống vừa được mô tả đều cùng lúc hoạt động để giữ thăng bằng cho con người, hay nói một cách khác để duy trì điểm chiếu của trọng tâm cơ thể nằm trong diên tích của đa giác đế. Khi một hệ thống suy yếu, các hệ thống còn lại có khả năng tăng hoạt động để bù trừ, nhưng cũng có một giới hạn nhất định. Khi toàn bộ các hệ thống hoạt động bình thường, vẫn có khả năng bị mất thăng bằng do những can thiệp từ bên ngoài vượt quá khả năng điều chỉnh. Như khi đứng trên một toa xe, bất chợt toa xe chạy hay ngưng gấp, lực quán tính thường thắng khả năng điều chỉnh của các hệ thống giữ thăng bằng.
III. AIKIDO VÀ SỰ THĂNG BẰNG
Tất cả các môn võ thuật đều hướng đến việc giữ thăng bằng cho người tập luyện. Trên căn bản này, việc chống đỡ hay phản công đều phải xuất phát từ một người làm chủ được sự thăng bằng của mình. Sự phản công có thể có vô vàn hình thái và cơ thể không cần xét đến vấn đề thăng bằng hay không của đối thủ.
Trong môn Aikido và một vài môn gần gũi khác, sự thăng bằng của đối thủ được xem xét dưới khía cạnh chiến lược. Làm mất thăng bằng đối thủ là điểm mấu chốt của Aikido. Toàn bộ sự phản công,có thể nói đặt trên sự mất thăng bằng của đối thủ làm khởi điểm và kết điểm là tình trạng thăng bằng mới ổn định.
Xét trên bình diện sự thăng bằng của đối thủ, tiến trình hành động của Aikido có thể tóm tắt như sau:
* Gây đau tại một khớp nhất định làm đối thủ phải nương theo hướng giảm đau. Điều này làm các khớp còn lại của đối thủ phải ở lại trong tình trạng buông lỏng, do đó mất thăng bằng bán phần và bị khống chế trong tình trạng đó.
* Hướng dẫn đối thủ theo di động vòng gây nên những hậu quả:
1. Mất thăng bằng do lực ly tâm phát sinh từ sự di động của đối thủ.
2. Mất thăng bằng do lực hướng tâm với những chuyển động xoắn thu hẹp dần.
3. Tạo sự xoay của toàn thân đối thủ theo một hướng, dòng nội dịch trong các vòng bán nguyệt sẽ di chuyển theo hướng ngược lại, điều này làm toàn bộ cơ bắp nằm trong hướng đối ngược với lòng nội dịch có khuynh hướng dãn lỏng ra do không thể kiểm sóat được sự co cơ phối hợp.
* Gây nhão cơ cho toàn thân đối thủ bằng cử động ngửa cổ. Tay và chân của đối thủ sẽ hoàn toàn mất sự kháng cự do cơ cổ, gáy trong tình trạng lỏng. Điều kiện này khi được hình thành người ta có thể làm ngã đối thủ dễ dàng về phía trước cũng như về phía sau.
IV. KẾT LUẬN
Nếu được áp dụng đúng đắn những kỹ thuật quan trọng chính yếu của Aikido thì các định luật sinh lý học sẽ xảy ra một cách tự nhiên và thoáng qua trong một thời gian đủ để phần lớn con người không thể cưỡng lại được với những phản ứng tự nhiên của cơ thể dưới tác dụng của trọng lực.
PTH