Giáo sư Bác sĩ Ngô Gia Hy
Bài 2: Dịch lý, Y Học Hiện Đại & Khí Công
Để hiểu sư vật, có thể áp dụng phương pháp thiền định và quán thức theo phương Đông hay phương pháp quan sát và thực nghiệm theo phương Tây. Một đàng lấy trực giác, một đàng lấy lý trí để tìm ra sự thật.
Dịch lý là một hệ thống tư tưởng xây dựng bằng định và quán.
Thuyết thái cực, Âm Dương và Ngũ hành gốc của Đông Y và của Khí công không phải ai cũng chấp nhận mặc dù nó đã được chứng minh qua châm cứu, và nhờ nó mà hai nhà bác học Vật lý Trung Quốc (Lý Chánh Đạo và Dương Chân Ninh) đã đoạt được giải Nobel. Bài này thử đi tìm cơ sở của những quy luật Dịch lý trong y học hiện đại, và đem áp dụng vào Khí công.
Quy luật quân bình Âm Dương về vũ trụ
“Nhất Âm, nhất Dương chi vị Đạo”. Mọi sự vật chỉ là Âm Dương đắp đổi. Trong cơ thể, tế bào là đơn vị cấu trúc, nhưng phân tích đến cùng, tế bào cũng chỉ là những phức hợp của nguyên tử và nguyên tố, của ion (-) và ion (+) (hình 1).
 |
| Hình 1: Tế bào và cơ thể chỉ là những phức hợp của nguyên tử và nguyên tố |
Những hiện tượng sinh học trong cơ thể là biểu hiện của sự đắp đổi của các nguyên tố và nguyên tử. Đắp đổi trong cái thế quân bình tương đối. Không có Âm tuyệt đối, cũng không có Dương tuyệt đối, bởi vì trong Dương có Âm và trong Âm có Dương. Tuyến sinh dục của phôi chưa định phái, bài tiết cả kích tố nam Testosteron (Dương) lẫn kích tố nữ Estrogen (Âm). Khi định phái rồi, và sau khi sanh, tinh hoàn vẫn bài tiết một ít kích tố nữ và ngược lại buồng trứng vẫn bài tiết một ít kích tố nam để giữ thế quân bình. Quân bình là lẽ của sự sống, mất quân bình là đầu mối của bệnh tật. Mất quân bình giữa hai kích tố nam và nữ là nguyên nhân của lưỡng phái. Ung thư tiền lập tuyến là do nồng độ kích tố nam quá cao, nguyên tắc điều trị là loại bỏ những nguồn kích tố nam. Mất quân bình Kiềm (Âm), Toan (Dương) trong cơ thể đôi khi đưa đến tử vong. Mất quân bình giữa hệ giao cảm (Dương) và hệ đối giao cảm (Âm) làm rối loạn chức năng của phủ tạng. Điển hình như hệ đối giao cảm quá hưng phấn gây hen suyễn.
Khí công lấy quân bình Âm Dương làm cơ sở tập luyện và điều trị. Có thể nói toàn bộ khí công là lập quân bình Âm Dương. Điển hình nhất là Sổ tức, thở vào (Dương), thở ra (Âm) đều nhau. Không ngơi nghỉ (hình 2). Thở vòng Tiểu Chu Thiên (Nhâm Đốc mạch) (hình 3) hay Đại chu Thiên (hệ Kinh Dương – hệ Kinh Âm) cũng là điều hòa Âm Dương, để từ đó điều hòa phủ tạng (hình 4). Trong Sổ tức, thở vào kích thích hệ giao cảm (Dương), thở ra kích thích hệ đối giao cảm (Âm) nên vừa điều hòa Âm Dương vừa lập quân bình giữa hệ giao cảm và đối giao cảm, cũng như phủ tạng (hình 5). Bởi vậy, một người tập luyện Khí công, chỉ cần tập Sổ tức suốt đời cũng đạt được nhiều kết quả.
 |
|
Hình 2: Thở vào (Dương) bằng thở ra (Âm). Thở nhẹ nhàng, êm dịu bằng cơ hoành |
Quy luật Âm Dương đối kháng
Âm Dương đối kháng nhau như đêm với ngày, lạnh với nóng, dưới với trên, nhưng không hủy diệt nhau mà nương vào nhau. Không có Âm, thì không có Dương, và ngược lại không có Dương thì không có Âm “Cô Dương bất sinh, cô Âm bất trưởng”. Âm Dương vận hành theo quy luật Âm cực nhất Dương sinh và ngược lại, Dương cực nhất Âm sinh, bởi thế mới nói “Phúc là chỗ nấp của Họa, Họa là chỗ dựa của Phúc” (Lão Tử).
Về sinh học, Nam và Nữ là hai thể đối kháng, nam nữ phối hợp giúp nhân loại tồn tại. Kích tố nam và kích tố nữ cũng là điển hình của đối kháng.
Trong hơi thở, nhịp hô hấp là thuận theo quy luật Âm cực – Dương sinh, Dương cực – Âm sinh. Hết thở ra (Âm) đến thở vào (Dương), hết thở vào (Dương) đến thở ra (Âm).
 |
| Hình 3:Vòng tiểu chu thiên. Dẫn khí theo vòng nhâm đốc mạch để điều hòa Âm Dương. Nhịp thở:Sổ tức |
 |
| Hình 4:Điều hòa hệ kinh dương và kinh âm. Nhịp thở: Sổ tức |
 |
| Hình 5:sổ tức, thở vào bằng thở ra là lập thế quân bình giữa hệ giao cảm và đối giao cảm |
 |
| Hình 6: Quy luật phản phục của âm dương |
Trong khí công. Tĩnh công (Âm) đối kháng với động công (Dương), nhưng không hề có tĩnh tuyệt đối và động tuyệt đối. Trong tĩnh có động, động là cơ hoành lên xuống là tụ khí, tán khí, dẫn khí. Trong động công thư giãn (Âm) kết hợp với co cơ (Dương), khai (giang ra, Dương) kết hợp với hợp (thu vào, Âm).
Tất cả tạo thành một nhịp điệu để luyện kinh mạch.
Quy luật biến động
Cái lý tương đối trong quân bình còn là động cơ của biến động, Thái cực động. Động là bản chất của vạn vật, và là biểu hiện của sự sống. Ngay từ Dịch đã nói lên điều này. Chân như vô thường của nhà Phật. Brahaman của Ấn Độ giáo, Đạo của Lão tử cũng đều mang tính động. Heraclite cũng đã nói “Mọi vật đều chảy trôi”. Các nhà vật lý học cũng quan niệm vũ trụ là môi trường biến động triền miên của nguyên tử, nói đúng hơn là của proton, neutron và electron.
Trên người, tính biến dộng cũng là biểu hiện của sự sống. Chuyển hóa của tế bào duy trì và phát triển chức năng của cơ thể và là nguồn gốc của nội lực, dòng máu tuần hoàn, sống chết là biến động.
Trong Khí công, bản chất của khí là luân chuyển khắp toàn thân. Khí trì trệ là biểu hiện của bệnh tật. Luyện khí là vận khí, là biến Thiên khí và Địa khí hay Vinh khí thành Chân khí. Luyện khí là biến đổi năng lượng của vũ trụ thành năng lượng bản thân, biến lực vô biên của trời đất thành nội lực.
Quy luật phản phục
Động và biến, chuyển và hóa, nhưng rồi lại trở về cội nguồn theo quy luật phản phục.
Dịch là biến dịch và bất dịch qua giao dịch (hình 6).
Trong vòng tuần hoàn của 12 quẻ Âm-Dương nạp địa chi, bắt đầu từ quẻ Phục hào Dương xuất hiện rồi Âm Dương đắp đổi để thành quẻ Lâm, Thái, Đại, Tráng, Quải, Kiền (thuần Dương) Cấu, Độn, Bỉ, Quán, Bác, Khôn (thuần Âm) để trở lại quẻ Phục (xem hình 12).
Phát triển cây cỏ cung theo quy luật phản phục. Cây sinh hoa, hoa sinh quả và quả lại sinh cây, nhờ thế mà tồn tại.
Trên người máu chuyển vận trong huyết mạch cũng theo quy luật phản phục. Máu từ tim chạy khắp cơ thể rồi lại trở về tim. Protein dị hóa thành acid amin lại đồng hóa thành protein.
Điều trị: nghĩ cho cùng phải chăng là phục hoàn chức năng của một cơ quan đã bị rối loạn và tạo hình là trả lại cho một cơ quan hình thái và cấu trúc bình thường của nó.
-Cơ sở của khí công là thư giãn, cả thể chất lẫn tâm thần. Trong suốt buổi tập, kể cả trong lúc vận động, đều lấy thư giãn là gốc, và cuối cùng lại trở về với thư giãn.
Vận khí chu lưu suốt kinh mạch, nhưng cuối cùng, vẫn tụ khí vào đan điền. vì đan điền là lò của chân khí (hình 7)
 |
|
Hình 7: Quy luật Phản phục trong khí công khởi từ đan diền lại trở về đan điền trong vận khí |
Quy luật sinh khắc ngũ hành
Ngũ hành vận chuyển theo quy luật sinh khắc (hình 8) để duy trì và phát triển sự sống. Mỗi phủ tạng: mỗi kinh mạch thuộc một hành, và qua tác động qua lại giúp cơ thể hoạt động hài hòa. Theo luật sinh khắc giữa các hành thì vừa có giúp đỡ, vừa có ức chế, nhưng không hủy diệt nhau.
 |
|
Hình 8: Quy luật sinh khắc của ngũ hành |
Về sinh lý học, luật sinh khắc thể hiện rất rõ trong quan hệ nội tiết giữa tuyến yên và tinh hoàn. Tuyến yên bài tiết FSH để kích thích tinh hoàn sinh tinh trùng. Nhưng chính tinh hoàn lại bài tiết inhibin để ức chế tuyến yên khi có quá nhiều FSH, theo cơ chế phản hồi theo sơ đồ sau (hình 9).
 |
|
Hình 9: Trục dưới đồi – Tuyến yên – Tinh hoàn |
Điều trị cũng thường áp dụng cơ chế ức chế và kích thích như dùng thuốc alpha adrenergic trong co thắt cổ bọng đái do hệ giao cảm quá hưng phấn.
Tập luyện Khí công mỗi ngày bốn lần trong giờ Tý (ngoảnh mặt về phương Bắc), giờ Ngọ (ngoảnh mặt về phương Nam), giờ Mão (ngoảnh mặt về phương Đông), giờ Dậu (ngoảnh mặt về phương Tây) là tập theo vòng tương sinh của ngũ hành (hình 10)
 |
|
Hình 10: Tập trung bốn giờ Tý Ngọ Mão Dậu là nương theo vòng tương sinh của ngũ hành, và vòng vận hành của tứ tượng |
Bởi vậy, nếu không tập được mỗi ngày 4 lần như trên, sẽ tập vào:
-Giờ Mão (thuộc Mộc) và Mộc sẽ sinh Hỏa.
-Giờ Dậu (thuộc Kim) và Kim sẽ sinh Thủy.
Quy luật nhịp sinh học
Xuân hạ thu đông, ngày đêm, sáng chiều là nhịp sinh học của vũ trụ. Mười hai giờ trong ngày là nhịp sinh học của ngũ hành, kinh mạch và phủ tạng.
Trên cơ thể, thời sinh học giải thích huyết áp thường tăng vào lúc 15 giờ, kinh nguyệt xuất hiện theo chu kì, kích tố nam testosteron có nồng độ cao nhất vào 3-4 giờ sáng.
Thời bệnh lý học giúp dự phòng những bệnh bộc phát theo mùa, như bệnh hen suyễn, bệnh loét dạ dày, bệnh dịch.
Đi xa hơn nữa, có thời liệu pháp trong uống thuốc cũng như trong phẫu thuật.
Tập luyện Khí công vào bốn giờ Tý, Ngọ, Mão, Dậu như đã nói ở trên là tập theo nhịp sinh học của thời tiết trong ngày, của chu kì vận hành kinh mạch (hình 11) của vòng sinh học sinh thành bại tuyệt của Âm Dương (hình 12).
Trên cơ sở tập luyện Khí công theo nhịp sinh học, ngoài sự điều hòa phủ tạng, còn có thể chọn giờ để tập luyện kinh liên hệ của một tạng hay phủ bị giảm chức năng. Cụ thể như luyện kinh Phế ở giờ Dần, khi phổi yếu (hình 11).
 |
| Hình 11: Tý, Ngọ, Mão, Dậu và vận hành của kinh mạch (theo Lãn Ông) |
 |
|
Hình 12: Quẻ Thái trong vòng nhịp biến hóa: Sinh Thành Bại Tuyệt, Ấu Tráng Lão của âm dương. - Dương: Ấu ở Tý Sửu, Tráng ở Dần Mão, Lão ở Thìn Tỵ ; - Âm: Ấu ở Ngọ Mùi, Tráng ở Thân Dậu, Lão ở Tuất Hợi. |
Cái nhìn toàn thể
Vạn vật đồng nhất thể, nên muốn hiểu sự vật, phải đặt nó vào một bối cảnh chung. Âm Dương, Ngũ hành, kinh mạch, không vận hành riêng lẻ, mà luôn luôn đồng hành và có tác động qua lại như một thể thống nhất.
Hãy nhìn thế giới trong một hạt cát
Và vòm trời trong một bông hoa dại
Hãy nắm bất tận trong lòng bàn tay
Và vĩnh cửu trong một giờ
(W. Blake)
Cơ thể con người là một thể thống nhất. Phân chia dù để đào sâu một vấn đề là giả tạo, và nếu không quay về với tổng thể, thì sẽ rơi vào sai lầm. Tăng huyết áp, đâu phải chỉ có do tim mạch, mà còn do thận, do gan, do não.
Phản xạ đâu phải chỉ liên hệ tới cơ quan qua dây thần kinh, mà là một phản ứng của toàn cơ thể.
Thích nghi với môi sinh, không phải chỉ là nhiệm vụ của hệ giao cảm mà là của toàn bộ não – nội tiết vì quan niệm đối kháng giữa não – thần kinh – và hệ nội tiết đã lỗi thời.
Điều trị một cơ quan mắc bệnh, cần đặt nó không những vào nội cảnh của cơ thể mà còn vào ngoại cảnh chung quanh. Biết bao nhiêu bệnh vì ngoại cảnh sinh ra.
Ngồi kiết già hay bán già, tập luyện Khí công theo thế chân vạc: điều Thân, điều Tâm, điều Tức, là tập luyện toàn tâm thể (hình 13). Khí công cũng có cái nhìn toàn thể trong Tinh Khí Thần (hình 14) hay Tam Điền Quy Nguyên (hình 15) hoặc Tam Hoa tụ đỉnh (hình 16).
Sau cùng, Khí công không tách rời con người khỏi vũ trụ, mà đem con người là Tiểu thái cực hòa đồng với vũ trụ là Đại Thái cực, trong cái thế tam tai Thiên – Địa – Nhân (hình 17).
Khoa học chỉ có một, con người chỉ có một. Nếu Đông Y và Tây Y có cách tiếp cận khác nhau về sự vật thì vẫn có điểm chung. Đi tìm những điểm này và phát triển ra, thiết nghĩ là một phương pháp kết hợp hai nền Y học, và cũng để tìm hiểu con người và vũ trụ hơn.
 |
|
Hình 13: Ba cột trụ của khí công trong quan niệm Ý – Khí – Lực hợp nhất hay tổng hợp giữa tinh thần và vật chất |
 |
| Hình 14: Cái nhìn toàn thể về Tinh – Khí – Thần |
 |
| Hình 15: Luyện Tinh – Khí – Thần hay Tam điền quy nguyện |
 |
| Hình 16: Luyện Tam hoa tụ đỉnh |
 |
| Hình 17: Hòa đồng Tiểu Thái cực với Đại Thái cực |
(Còn tiếp)