Về nền học thuật Aikido Việt Nam

11-06-2009 12:53

 

 

1.       Thành văn và bất thành văn:

 

Trong văn hóa, có những thành tố văn hóa phi vật thể: các điệu múa, điệu hát, truyền khẩu… Trong luật pháp của một bộ tộc, một dân tộc, có những điều luật bất thành văn.

 

Cũng như vậy, Aikido Việt Nam – một hữu thể văn hóa -  có những yếu tố được xác lập qua văn tự, mà cũng có những thành tố được thể hiện qua những sự kiện, tập tục, lề thói của các cộng đồng Aikido Việt Nam. Những thành tố phi vật thể, bất thành văn đó, qua thời gian được gạn lọc và công nhận như những thành phần văn hóa có giá trị, trở thành truyền thống của Aikido Việt Nam.

 

2.       Nội hàm học thuật Aikido Việt Nam:

 

Học thuật Aikido Việt Nam bao gồm tất cả những kết quả của trí tuệ lao động, sáng tạo của các vị tiên hiền, tiền bối đã suy nghĩ, thể hiện, tiếp thu và chọn lọc, chuyển hóa và dịch thuật, suy nghiệm và sáng tạo, và qua đó, làm cho Aikido Việt Nam, từ một môn võ Nhật, một yếu tố văn hóa ngoại lai, xa lạ trở nên gần gũi, quen thuộc, hòa nhập với nền văn hóa truyền thống Việt Nam.

 

3.       Danh xưng: Lập ngôn và lập thuyết

 

Từ tên gọi một chiêu thức, một động tác trong tiếng Nhật như “Irimi”, được chuyển hóa ra tiếng Việt là “nhập nội”, đến những bài viết trong đó Aikido được giới thiệu như một hệ thống tư duy nhất quán, một “Triết lý”, từ việc biến một đòn thế sao cho phù hợp với thể trạng con người Việt Nam đến việc tích lũy, cô đọng các nghi thức trong các nghi lễ Aikido (Giỗ Tổ, Tết, trao đai thi cử …) các giá trị truyền thống Aikido Việt Nam đã có một bề dày đáng kể từ những ngày đầu lập đạo.

 

Hiện nay, ta sử dụng các từ như “Hiệp khí đạo”, “khí kết”, “vòng cầu động”, “tập trung lực”, “bất động hóa”, “ân võ”, “đại hoàn nguyên”, “tứ phương kiếm”… một cách tự nhiên, thoải mái… và không hề nghĩ tới công lao của những người đã suy nghĩ, trăn trở để tạo ra chúng, giúp cho chúng ta không phải ngẩn ngơ trước các từ Nhật như Shiho giri, ki mushubi, suchu ryoku…

 

4.       Chương trình huấn luyện:

 

Aikido Việt Nam chưa có một chương trình huấn luyện thống nhất. Tại mỗi địa phương, các thầy áp dụng chương trình tùy trình dộ tư duy, nhận thức của mình.

 

Riêng tại Sài Gòn – TP. HCM, qua các thời đại, các bậc tiên hiền, tiền bối đã lập ra và chuyển hóa chương trình huấn luyện từ thời Đs.Nakazono đến nay. Nếu tinh ý và chịu khó tập chú vào các chương trình đó, ta sẽ hiểu được trình độ và suy nghĩ của những vị vạch ra chương trình huấn luyện: có khi nó làm hại cả một thế hệ mà không hay là vì nó đặt hướng đi cho việc giáo dục con người.

 

5.       Lịch sử: sáng lập, hình thành phát triển, suy vong

 

Nền học thuật Aikido Việt Nam còn bao gồm cả một mảng lịch sử Aikido Việt Nam, tiểu sử các bậc tiên hiền, tiền bối, không quên các ân nhân, các nhà hỗ trợ tinh thần lẫn vật chất khiến cho Aikido Việt Nam có được diện mạo như ngày hôm nay.

 

6.       Dùng ngòi bút để làm nhân chứng:

 

Cũng cần ghi nhận những đóng góp to lớn của những vị đã dùng ngòi bút để làm nhân chứng trước lịch sử, với những bài trong các kỷ yếu, giai phẩm, đặc san, tạp chí, … hoặc để trước tác và dịch thuật: Aikido Việt Nam được như ngày hôm nay cũng nhờ vào số sách được dịch ra Việt ngữ, nổi bật nhất là: “Hiệp khí đạo trong đời sống hằng ngày”, “Aikido tự luyện”, “Hiệp khí đạo nhập môn”, …

 

Lại phải kể đến những văn bản “cơ hội”, những “tác phẩm nhỏ” từ vài chữ đến vài chục chữ, vài trăm chữ: giấy báo tin, giấy mời, thiệp chúc tết, biên bản, báo cáo, kể cả trao đổi bằng Email, Fax, …

 

Thêm vào đó là thư từ trao đổi cá nhân, đơn thư khiếu nại, những lá thư nặc danh …

 

7.        Tóm lại

 

Nội hàm của nền học thuật, Aikido Việt Nam bao gồm những hình thái sinh hoạt từ tư duy đến hành động có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự du nhập hình thành và phát triển môn võ đạo Aikido Việt Nam từ 1958 cho đến ngày nay.