Vs.Bùi Thế Cần dịch
2. THÁC CỐT
Chữ Thác theo Thiều Chửu có nghĩa là mài dũa, lẫn lộn, lầm lẫn, lệch lạc. Như vậy Thác Cốt là những kỹ thuật cầm nã làm cho xương bị di dịch khỏi vị trí tự nhiên. Các chiêu thức cầm nã nầy được áp dụng trên các quan tiết. Nếu người ta xem xét cơ cấu của một khớp, người ta có thể thấy là xương được nối kết lại với nhau bằng gân và sụn và với các cơ bằng dây chằng. Khi khớp bị bẻ ngược hướng tự nhiên của nó hoặc bị vặn tức thì có một cảm giác đau cao độ, gân có thể bị tước ra và xương bị lệch vị.
Nói cho đúng thông thường rất khó tách rời các kỹ thuật phân cân và thác cốt. Vì hiếm khi có phân thân mà không thác cốt và ngược lại.
3. BẾ KHÍ
Theo tiếng Hoa bế có nghĩa là đóng, khóa, giam. Các chiêu thức này gây trở ngại cho hô hấp, thậm chí có thể khiến cho đối thủ bất tỉnh. Có ba loại bế khí khác nhau dựa trên nguyên lý làm ngưng khí.
Loại thứ nhất nhắm vào việc làm nghẽn yết hầu để làm đối phương ngừng thở, người ta có thể xiết cổ bằng bàn tay hay bằng cả cánh tay. Người ta cũng có thể ấn hoặc xỉa vào yết hầu để tạo ra phản xạ co bóp của các cơ yết hầu làm trở ngại hô hấp (Hình 1-10).
 |
| Hình 1-10 |
Các chiêu thức loại hai nhằm tới việc bế khí bằng cách tấn công các cơ vùng phổi. Do vùng ngực thường được bảo vệ cho nên khó có thể chạm tới phần lớn các cơ đó. Tuy nhiên một số cơ trải dài ra, ngoài vòng bảo vệ và khi bị đánh trúng chúng co lại và ép phổi gây nên ngạt thở cho nạn nhân. Có hai nhóm cơ chính cho phép sử dụng các thế cầm nã này (Hình 1-11).
 |
| Hình 1-11 |
Loại thứ ba bao gồm các chiêu thức ấn huyệt và điểm các đầu dây thần kinh. Khi so sánh các chiêu thức này với các chiêu thức loại hai, thì sự khác biệt là ở các điển bị tấn công. Tuy nhiên các chiêu thức loại này khó hiểu và thủ đắc hơn. Thế nhưng một khi đã quán triệt được chúng hơn hẳn các loại khác về mặt lợi hại.
Như chúng tôi đã giải thích đối với loại hai, hình dạng các xương sườn tạo thành một cái lồng bảo vệ các tạng phủ vùng ngực chống lại những tấn công từ bên ngoài. Mỗi xương sườn không được làm bằng một đốt xương chạy quanh vùng ngực mà không đốt nối kết với nhau bằng sụn và gân (Hình 1-12).
 |
| Hình 1-12 |
Khi có vật từ bên ngoài chạm vào ngực, các xương sườn phản ứng như một lò xo, một trái bóng bằng cao su làm giảm sốc. Lực tấn công sẽ được đẩy lùi theo phép đàn hồi hoặc chính cơ thể bị xô đẩy ra phía sau (hoặc phía trước), nhưng các nội tạng quan yếu và mảnh mai-tim và phổi- được bảo vệ.
Do vậy để tạo ra được một lực ép trên hai lá phổi khiến gây ngạt thở người ta phải điểm vào một số các huyệt đặc biệt thuộc châm cứu hoặc một vài điểm giao thoa của hệ thống thần kinh không được lồng ngực bảo vệ (Hình 1-13).
 |
| Hình 1-13 |
Điểm vào các huyệt một cách chính xác với một lực thẩm thấu cần thiết sẽ tác động lên khí của các cơ bao quanh phổi (và tạo ra động tác hô hấp) khiến chúng co bóp. Điểm các đầu dây thần kinh sẽ tạo ra một cơn đau chạy xuyên qua lồng ngực và kích động phản xạ cũng của các cơ trên.
Trong cả hai trường hợp phản xạ của cơ cũng đủ sức triệt khả năng hô hấp của nạn nhân.
(Còn tiếp).