Vs.Bùi Thế Cần dịch
4. ĐIỂM MẠCH HAY ĐOẠN MẠCH
Trong tiếng Hoa điểm có nghĩa là chỉ hoặc ấn bằng ngón tay. Mạch bao gồm kinh mạch của khí hay mạch máu (huyết mạch). Như vậy điểm mạch có nghĩa đánh hoặc ấn vào tĩnh, động mạch hay vào các đường kinh của khí. Trong trường hợp làm tổn thương động, tĩnh mạch người ta còn dùng từ ngữ đoạn mạch (làm ngưng trệ lưu thông của động mạch). Vì chữ đoạn có nghĩa là làm vỡ, ngăn chặn, che khuất. Người ta còn dùng từ ngữ điểm huyệt – đây là trường hợp tấn công vào thái dương: Một quả thôi sơn khiến động mạch bị vỡ. Các chiêu cầm nã ấn hoặc đả trên các huyệt nằm trên kinh mạch của khí được gọi là điểm huyệt …
Trên nguyên tắc kỹ thuật đoạn mạch được thực hiện hoặc bằng ấn hoặc bằng đả. Nếu đả huyệt đòn cầm nã có thể làm đứt mạch máu và làm ngưng trệ lưu thông bình thường của máu. Điều này có thể đem đến tử vong.
 |
| Hình 1-14 |
Chẳng hạn nếu ta đánh vào thái dương ta có thể tạo ra sự co bóp của cơ đủ để khiến động mạch bị vỡ (hình 1-14 và 1-15A). Được thi triển theo dạng ấn, kỹ thuật này cũng có thể làm ngưng tuần hoàn máu.
 |
| Hình 1-15 |
Chẳng hạn ấn vào động mạch cổ làm ngưng dòng chảy của máu về não và như vậy có nghĩa ngưng việc cung cấp oxy cho não – có hai động mạch chủ ở hai bên cổ mà chức năng chính là nuôi dưỡng não bộ - (hình 1-15B và 1-16). Sự thiếu hụt này kéo theo một cách rất nhanh chóng tình trạng kích ngất rồi tử vong. Việc ngạt thở xảy ra rất nhanh. Đôi khi các cơ phụ hai bên bị tê liệt và gây trở ngại cho việc can thiệp để phục hoạt nạn nhân.
 |
| Hình 1-16 |
Nếu bạn chưa có nhiều kinh nghiệm và nắm chắc khả năng phục hồi làm lai tỉnh đối tượng thì tốt hơn đừng sử dụng loại kỹ thuật này.
(Phần tiếp theo: ĐIỂM HUYỆT)
(Còn tiếp).
|