Gs. Bác sĩ NGÔ GIA HY
PHƯƠNG PHÁP CÔNG PHU
ĐỂ ĐIỀU TRỊ HEN SUYỄN.
Thay đổi môi trường và nếp sống
Môi trường và nếp sống của người bệnh có thể là nguyên nhân gây hen suyễn như bất hòa trong gia đình, không khí ô nhiễm có yếu tố gây dị ứng. Khuyên bệnh nhân tạm thời đổi chỗ ở để có môi trường thuận lợi cho điều trị.
Bệnh nhân cần giữ điều độ trong công việc cũng như trong tiết thực: không làm việc quá sức, kiêng những thức ăn khó tiêu, bỏ thuốc lá, rượu.
Thời khóa biểu tập luyện
Mỗi ngày tập 4 lần, vào giờ Mão, Ngọ, Dậu, Tý: mỗi lần 20-30 phút, tập đều đặn, và nghiêm túc dần tạo những phản xạ chống lên cơn.
Phương pháp tập
Phương pháp tập chủ yếu là Sổ tức (Thở làm hai thì, thở vào và thở ra bằng nhau) trong thế Kiết già hay Bán già, hoặc ngồi trên ghế. Những tuần đầu, hay tháng đầu sẽ tập dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của thầy Khí công. Sau đó sẽ tự tập và tự theo dõi.
CƠ SỞ DỊCH LÝ CỦA ĐIỀU TRỊ HEN SUYỄN BẰNG
KHÍ CÔNG
Bằng phương pháp tập luyện trên, về phương diện dịch lý, Khí công có những tác dụng sau.
1. Qua sổ tức
Lập lại quân bình Âm Dương mà, thường bị mất trên bệnh nhân bị suyễn, nhất là suyễn tâm lý, bệnh nhân rất dễ bị kích động xung kích vào cơ thể.
Trong hen suyễn, trên quan điểm chấp nhận hệ giao cảm là Dương, hệ đối giao cảm là Âm, thì Âm ở đây quá vượng. Bằng sổ tức là thở vào (Dương), thở ra (Âm) bằng nhau. Khí công xóa bỏ sự bất thường này.
2. Qua tập theo vòng nhịp sinh học bốn giờ Mão, Dậu, Ngọ, Tý
Lập lại sự vận động hài hòa của Ngũ hành. Theo Tuệ Tĩnh, suyễn của trẻ em thường do Hỏa còn của người lớn thì tùy dạng suyễn sẽ do Thủy khí hay Hỏa khí lấn. Bằng tập luyện vào bốn giờ Mão, Ngọ, Dậu, Tý trong ngày, Khí công điều hòa Mộc Hỏa Thủy đồng thời vận động khí theo vòng tương sinh của Ngũ hành nên tăng cường chức năng của phủ tạng.
Tập theo bốn giờ kể trên, Khí công còn nương theo đường vận hành của Tứ tượng: Thiếu Dương, Thái Dương, Thiếu Âm, Thái Âm, tức của vũ trụ, để tập cho cơ thể quen với thay đổi của môi trường tự nhiên, và không lên cơn suyễn.
Cũng trên tinh thần trên, tập theo bốn giờ Mão, Ngọ, Dậu, Tý là tập theo nhịp sinh học của thời tiết trong ngày và giúp cơ thể có những phản xạ chống lại sự xung kích của lục dâm, nguyên nhân sinh ra hen suyễn.
 |
|
Hình3: Thở Sổ tức làm quân bình
Đối giao cảm (Â) và Giao cảm (D) |
 |
| H.4: Vòng nhịp sinh học của Tứ tượng |
CƠ SỞ Y HỌC HIỆN ĐẠI CỦA ĐIỀU TRỊ HEN SUYỄN
BẰNG KHÍ CÔNG
1. Cơ sở chuyển hóa
Thư giản cơ thể và ngồi yên lặng hoàn toàn giảm chuyển hóa cơ bản, nên thiếu oxygen do khó thở vẫn không gây ảnh hưởng tới sức khỏe và không đòi hỏi phải thở mạnh.
2. Cơ sở thần kinh
Khí công dùng ý chí thắng phản xạ, kể cả phản xạ kích thích dây thần kinh X: cũng bằng ý chí, khí công kiểm soát nhịp thở và độ sâu của hơi thở nên dần dần giúp thắng được những rối loạn của hô hấp do suyễn. Sổ tức thở vào bằng thở ra, lập lại quân bình giữa hệ đối giao cảm và giao cảm có thể cắt cơn suyễn nhẹ.
Hằng ngày tập khí công là luyện cho phổi và cơ thể thích nghi với môi trường hưng phấn đối giao cảm, nên chất dị ứng có xâm nhập cơ thể và kích thích dây thần kinh X cũng không lên cơn suyễn.
3. Cơ sở tâm thần
Khí công tập luyện cho bệnh nhân lại được những xúc cảm đột ngột, tin tưởng vào khả năng tự trị bệnh, không còn sợ cơn suyễn nổi lên.
Dưới đây là một số giả thuyết có thể đào sâu và nghiên cứu để tìm hiểu tác động của khí công đối với suyễn.
a) Tác động nội tiết
Qua hơi thở, và thế Kiết Già, máu được dồn vào vùng hạ tiêu, vùng Quan nguyên và vùng Mệnh môn. Nếu lại quan niệm rằng Mệnh môn là tuyến thượng thận, với vùng vỏ bài tiết corticoid (glucocorticoid, mineralecorticoid) vùng tủy bài tiết catecholamine (epinephrine, norepinephrin) có tác động giống như hệ thần kinh giao cảm, thì khí công có lẽ kích thích tuyến thượng thận bài tiết những chất vẫn thường dùng trong Tây Y về điều trị suyễn là epinephrine và Cortison.
 |
| H.5: Thận và mệnh môn |
b) Tác động miễn dịch học
Tập khí công cơ bản làm hưng phấn đối giao cảm, do đó ngoài cơn suyễn, Khí công tạo ra một cơ địa miễn dịch hóa đối với cường đối giao cảm.
c) Tác động hóa miễn dịch
Sau cùng phải chăng nồng độ CO2 tương đối cao, trường cửa kích thích cơ thể bài tiết chất hóa học ức chế hay trung hòa chất trung gian hóa ứng động.
HEN SUYỄN KHI GẮNG SỨC
Thông thường, cơn co thắt khí quản cực điểm, làm trổi dậy cơn hen suyễn, hay xảy ra buổi tối lúc đang ngủ và nhất là lúc gần sáng vào giờ Dần (3 – 5 giờ). Theo y học cổ truyền giờ Dần là lúc hơi thở yếu nhất đối với người bị bệnh phế quản vì Dần thuộc Mộc. Phế lại thuộc Kim mà Kim lại khắc Mộc. Tuy nhiên cơn suyễn cũng xảy ra khi phải gắng sức về thể lực.
Sự liên hệ lên cơn suyễn với gắng sức đã được ghi nhận từ lâu. Cơn suyễn không xảy ra trong khi đang thao tác mạnh hay đang lúc thi đua mà bộc phát ngay sau khi mãn cuộc, điển hình là sau một thời gian ngắn phải tận lực (6-8 phút) – nhưng không ngắn quá (1-2 phút) – ví dụ như sau cuộc chạy đua 100 mét hay leo dốc.
Nghiên cứu thấy rằng phế quản giãn trong lúc đang gắng sức, nhưng co thắt sau khi gắng hết sức.
Có nhiều giả thuyết giải thích hiện tượng này, nhưng có hai giả thuyết có thể chấp nhận được.
Thuyết thứ nhất cho rằng trong lúc gắng sức, cả hai hệ đối giao cảm và giao cảm chủ yếu là giao cảm Beta giãn cơ đều hưng phấn, với ưu thế về phía thứ hai này nên phế quản giãn nở; lúc ngưng gắng sức, thì hệ giao cảm hết hưng phấn, nhưng hệ đối giao cảm vẫn tiếp tục còn hưng phấn nên phế quản co thắt.
Thuyết thứ hai quan niệm rằng trong lúc gắng sức, các dưỡng bào (mastocyt) bị kích thích và phóng thích những chất trung gian co thắt phế quản như histamin, chất phản ứng phản vệ chậm (S.R.S.A) đồng thời hệ giao cảm cũng hưng phấn với sự thắng thế của hệ này nên phế quản giãn. Đến lúc hết gắng sức thì hệ giao cảm chấm dứt hưng phấn đột ngột nên các chất trung gian tự do tác động và làm co thắt phế quản mạnh.
Tóm lại, lên cơn suyễn ở đây cũng do mất quân bình đột ngột giữa hai hệ giao cảm và đối giao cảm với sự thắng thế của đối giao cảm, do đó để phòng ngừa cơn suyễn, Tây Y cho:
- Thuốc giống giao cảm kích thích bêta loại terbutalin hay salbutanol uống hoặc dưới dạng khí dùng trước khi thi đua.
- Theophylin và đồng loại giảm sự phóng thích các chất trung gian gây cơn hen từ dưỡng bào cũng phòng ngừa được, nhưng không bằng Cromoglycat ức chế sự phóng thích các chất trung gian. Các thuốc này chỉ có tính chất phòng ngừa mà không làm dứt được cơn suyễn như các chất giống giao cảm bêta.
Khí công cũng có thể điều trị và phòng ngừa cơn suyễn do gắng sức theo các cơ chế sau:
1. Ngồi sổ tức ngay sau lúc ngưng thi đua, lập lại thế quân bình giao cảm-đối giao cảm trong một thời gian ngắn.
2. Tập Khí công hằng ngày là luyện cho cơ thể thích nghi với môi trường thiếu oxygen như lúc nhịn thở hay lúc thi đua mà lượng oxygen đưa vào dù thở mau vẫn ở dưới mức nhu cầu.
3. Tập Quán tức, là rèn luyện cơ thể thích nghi với hoàn cảnh giao cảm hưng phấn.
4. Tập Khí công để hoàn toàn làm chủ được hơi thở, sẽ vẫn giử được quân bình giao cảm-đối giao cảm trong lúc thi đua và không có hiện tượng đối giao cảm đơn phương hưng phấn lúc chấm dứt thi đua.
Trên quan điểm này, Tây Y cũng khuyên các lực sĩ có bệnh suyễn, tập quen dần với trạng thái phải gắng sức. Bởi là môn thể dục ít gây suyễn nhất, sau đó là Judo, bóng bàn, quần vợt, bóng đá.
HEN SUYỄN TÂM LÝ
 |
| Hình 6: Cơ chế hen suyễn do xúc cảm. |
Trên thực tế, không có hen suyễn hoàn toàn do tâm lý. Yếu tố tâm lý xã hội chỉ là một cái gai kích thích lên cơn hen, trên một cơ địa đã có bệnh hen từ trước. Trước những xúc động hay kích động (stress) nếu là người bình thường thì sẽ có phản ứng lại bằng tăng nhịp tim, tăng huyết áp, tăng nồng độ cortison huyết tương và tăng bài tiết norepinephrin trong nước tiểu, nhưng không có co thắt phế quản.
Ngược lại, trên người có bệnh hen suyễn, nồng độ bài tiết catecholamin có thể không thay đổi, nhưng phế quản thì co thắt.
Môi trường gia đình, mặc cảm bị bạc đãi, bị bỏ rơi hồi còn nhỏ, những kích động thường nhật trong thời thơ ấu là những yếu tố phần nào tạo ra cơ địa dễ bị hen suyễn. Những người bị mắc bệnh trầm cảm cũng vậy.
Xúc động trên những bệnh nhân có cơ địa hen suyễn tác động vào cơ thể theo ba cơ chế:
1. Làm tăng IgE lưu trú tại phế quản và tạo ra sự mẫn cảm hóa ứng động.
2. Qua vùng dưới đồi thị, cơn xúc động thúc đẩy tế bào tăng bài tiết histamin và acetycholin.
3. Cũng qua vùng đồi thị, xúc động ức chế hệ giao cảm cảm sinh apinephtin, chất đối kháng với histamin.
Tóm lại, xúc cảm gây cơn hen vì tạo ra tiền đề phản ứng miễn dịch và làm mất quân bình giữa hệ giao cảm và đối giao cảm với chiều hướng thiên về đối giao cảm.
Ngoài những xúc động mạnh, ngay sự thay đổi thời tiết cũng bắt cơ thể phải có phản ứng cấp thời và như vậy cũng làm mất quân bình giữa hai hệ thần kinh thực vật này.
Khí công tác động lên cơn hen suyễn tâm lý trên ba mặt.
1. Về tinh thần, khí công bằng tập trung tư tưởng, xóa bỏ những ý nghĩ viễn vông và bỏ qua không để những xúc động tác động vào cơ thể, cũng qua tập trung tư tưởng khí công tăng sự tự tin ở khả năng tự điều trị và không còn mặc cảm bệnh tật.
2. Về mặt thần kinh tự chủ, qua điều hòa hơi thở Khí công lập lại quân bình giữa giao cảm và đối giao cảm.
3. Về mặt thần kinh trung ương, qua kiểm soát được vỏ não Khí công xóa bỏ những phản xạ mà trước kia có thể làm lên cơn hen suyễn.
Trong điều trị hen suyễn bằng Khí công, yếu tố cố gắng cá nhân có tầm mức quan trọng đặc biệt. Tự tin vào sức mình là mấu chốt của sự thành công.
 |
| Hình 7: Tác dụng của Khí công trong điều trị hen suyễn tâm lý. |
(Còn tiếp)