Gs. NGÔ GIA HY
PHẦN I – CƠ CHẾ KÍCH XÚC
Kích xúc là một hiện tượng phức tạp còn nhiều bí ẩn và bàn cãi. Tuy nhiên hầu hết các tác giả đều đồng ý kích xúc là một sự mất khả năng thích nghi chủ yếu với môi trường sống, môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội, từ đấy đưa đến rối loạn về sinh học và tâm thể.
Trước đây Selye (1956) nhấn mạnh về vai trò của adrenalin do vỏ tuyến thượng thận bài tiết, làm rối loạn tim mạch, hô hấp, tiêu hóa và tâm thần. Hiện nay không phải chỉ có tuyến thượng thận phản ứng lại kích xúc mà là cả một hệ thống thần kinh, nội tiết miễn dịch tức gần như toàn cơ thể. Các trung tâm thần kinh như vùng dưới đồi, tuyến yên cũng bài tiết những kích tố - kích tố thần kinh – như các tuyến nội tiết.
Cơ chế kích xúc có thể minh họa theo hình dưới đây:
 |
| Cơ chế thần kinh- nội tiết- miễn dịch của stress |
Kích xúc trước tiên tác động vào vỏ não, sau đó vào trung não rồi vào trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận, qua tuỷ sống vào hệ thần kinh thực vật giao cảm và đối giao cảm. Sau cùng kích xúc tác động vào tuyến ức và hệ miễn dịch.
Những nguyên nhân chính của kích xúc:
Sự thay đổi đột ngột của môi trường, môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội: những thăng trầm của cuộc sống, những ngang trái của cuộc đời, những chấn thương bệnh tật, nhiễm trùng nặng. Ba loại xung kích trên làm mất khả năng thích nghi của cơ thể với những hoàn cảnh mới, từ đó gây rối loạn sinh học và tâm thể dưới hai dạng cấp tính và mạn tính.
 |
| Nguyên nhân của kích xúc (stress) |
Cấp tính nếu kích xúc tới bất thần, rồi chấm dứt. Mạn tính nếu kích xúc có tính lặp đi lặp lại và có thể sinh bệnh, cụ thể như loét dạ dày tá tràng.
Hệ nội tiết thần kinh với trục dưới đồi, tuyến yên, tuyến thượng thận, hệ thần kinh thực vật và hệ miễn dịch là những yếu tố cơ bản để chống kích xúc, nhưng chúng cũng là những yếu tố gây độc hại cho cơ thể nếu tác động kéo dài.
PHẦN II- CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA KHÍ CÔNG TRONG KÍCH XÚC
Như trên đã nói kích xúc là một hiện tượng sinh lý phức tạp do nhiều nguyên nhân, mà hậu quả cuối cùng là làm rối loạn cấp tính hay mạn tính hệ thống thích nghi (allostatic systems) của cơ thể với môi trường và từ đó ảnh hưởng tới chức năng của các cơ quan chủ yếu là mạch, não, tâm thần.
Cơ chế tác động của khí công trong kích xúc
Khí công có thể điều trị và phòng ngừa kích xúc qua nhiều cơ chế:
Cơ chế 1: LÀM CHỦ BẢN THÂN
Phương pháp tập khí công dựa trên 3 cột trụ là:
+ Điều tâm
+ Điều thân
+ Điều tức
 |
| Ba cột trụ của khí công trong quan niệm Ý - Khí - Lực hợp nhất hay tổng hợp giữa tinh thần và vật chất |
1. Điều thân:
 |
|
Điều thân - Hòa đồng Tiểu Thái Cực với Đại Thái Cực |
Ngồi tập luyện, hoàn toàn im lặng trong thế kiết già hay bán già và thư giãn toàn thân, có tác dụng:
1) Loại bỏ mọi vọng động, không một phản ứng với bất kể xung kích nào từ đâu tới, từ trong cũng như ngoài cơ thể.
2) Thư giãn toàn thân là một trạng thái nghỉ ngơi, giúp điều hòa nhịp tim và nhịp thở và không để cơ bắp có phản xạ co bóp nếu có xung kích.
2. Điều tức:
Khí công có nhiều phương pháp điều hòa hơi thở (điều tức) nhưng để chống xung kích thì sổ tức là chính.
Trong sổ tức thở làm hai giai đoạn: giai đoạn thở ra và giai đoạn thở vào đều nhau, không có giai đoạn nghỉ.
Thở rất nhẹ nhàng thoải mái, êm dịu chỉ bằng cơ hoành, thở mà không như thở và đếm hơi thở (giúp tập trung tư tưởng).
QUÂN BÌNH ÂM DƯƠNG
Thở vào (Dương) = Thở ra (Âm)
 |
| SỔ TỨC |
Tác dụng:
1. Không để những xung kích làm loạn nhịp thở và từ đó loạn nhịp tim.
2. Lập thế quân bình giữa hệ thần kinh giao cảm và đối giao cảm. Về sinh học: thở vào kích thích hệ giao cảm và ức chế hệ đối giao cảm, thở ra kích thích hệ đối giao cảm và ức chế hệ giao cảm.
3. Như vậy thở vào bằng thở ra là trực tiếp lập thế quân bình giữa hai hệ giao cảm và đối giao cảm và gián tiếp:
a) Làm chủ được hệ thần kinh thực vật và không để cho hệ giao cảm hưng phấn nếu có xung kích.
b) Kiểm tra được về chức năng phủ tạng do hệ thực vật chi phối trong đó có tim mạch mà thường bị xáo trộn trong kích xúc.
 |
|
Sổ tức, thở vào bằng thở ra là lập thế quân bình hệ giao cảm và đối giao cảm |
3. Điều tâm:
Nhắm mắt để ngoại cảnh khỏi ảnh hưởng tới cơ thể, tâm trí, ý nghĩ, sau đó tập trung tư tưởng để kiểm soát và đếm hơi thở là bí quyết của điều tâm.
Tâm như con ngựa bất kham, những ý nghĩ chợt đến rồi chợt đi, tập trung tư tưởng là cột con ngựa bất kham, không còn tạp niệm nữa.
Tác dụng: Làm chủ vỏ não và từ đó gián tiếp làm chủ trục não dưới đồi, tuyến yên, tuyến thượng thận, trung tâm phản ứng khi bị xung kích.
Như vậy điều tâm có tác dụng hóa giải những xung kích trong đó có stress.
Cơ chế 2:
Khí công còn tập luyện cơ thể thích nghi với những thay đổi của thời tiết trong ngày, cũng như trong năm.
Mỗi ngày tập luyện 4 lần Sáng- Trưa- Chiều- Tối và ngồi theo hướng đông - tây là tập luyện theo vòng tương sinh của ngũ hành, vòng vận hành của tứ tượng, cho cơ thể quen với sự thay đổi của thời tiết. Thay đổi thời tiết đột ngột cũng là một dạng xúc kích và cũng có thể gây stress.
Cortison, kích tố (hormone) của stress tỏa ra cơ thể lúc mới ngủ dậy. Tập luyện khí công vào giờ Mão (buổi sáng sớm) giúp cơ thể quen với sự kiện này.
 |
| Tập trung 4 giờ Tý-Ngọ-Mão-Dậu là nương theo vòng tương sinh ngũ hành và vòng vận hành của tứ tượng |
Cơ chế 3: tạo những phản xạ có điều kiện, xóa bỏ những phản xạ có hại.
Ngồi kiết già: tập luyện ngày 4 lần, điều tâm và điều tức là một phương pháp để xóa bỏ những phản xạ có hại và tạo ra những phản xạ có điều kiện có lợi (Stress là một yếu tố gây phản xạ có hại, tập luyện khí công có tác dụng gây phản xạ có điều kiện hóa giải stress).
Cơ chế 4:
Một khi đã làm chủ được bản thân, làm chủ được hệ thần kinh thực vật, xóa bỏ được những tạp niệm, hóa giải những phản xạ có hại thì đi đến tâm bình, tức bình thản với những ngang trái của cuộc đời, những thăng trầm của cuộc sống và dễ hòa hợp với mọi người. Một nguyên nhân của stress là những thay đổi đột ngột trong cuộc sống, thay đổi cho chính mình hay người khác gây ra. Tập luyện khí công chính là để hóa giải điều trên.
Cơ chế 5: Vận khí
Ngoài phương pháp điều tức mô tả ở trên, khí công còn có những phương pháp thu hút thiên khí và địa khí biến thành chân khí, rồi vận khí qua các kinh mạch để đưa năng lượng vào toàn cơ thể. Kết quả là giúp cơ thể tăng cường chức năng và chống lại những xung kích và sớm trở lại bình thường một khi xung kích đã chấm dứt.
 |
| Thu hút thiên khí và địa khí |
NGH
(còn tiếp)