Lương y Trần Ngọc Ẩn
Luyện công sai có thể gây ra nhiều tai biến, nhẹ thì nhức đầu chóng mặt, nặng ngực, đau hông, trướng bụng, mỏi lưng, ớn lạnh, cơ thể nóng bừng; nặng thì nhồi máu cơ tim, chạy nhảy không ngừng, sa ruột, trĩ, tinh thần phân liệt, điên cuồng… thường gọi là “tẩu hỏa nhập ma”.
Tôi có một bệnh nhân trước đây tập khí công với một bác sĩ ở bệnh viện thuộc quận 5. Sau một thời gian luyện công, vùng đầu và vai bên phải bị tê. Chứng tê này ngày một trầm trọng hơn, trong khi ông thầy đã đi định cư nước ngoài. Không một thầy thuốc danh tiếng nào hay một nhà khí công nào mà bệnh nhân không tìm đến, nhưng vẫn không thuyên giảm. Đó là một trong nhiều tai biến mà người luyện công mắc phải. Ngoài ra, chúng ta còn nghe ít nhiều về những người điên cuồng vì thiền.
Do đâu mà có tai biến? Nguyên nhân có nhiều, tuy nhiên có thể quy vào các loại chính sau đây:
1/ Tập không có thầy hướng dẫn.
2/ Tuy có thầy hướng dẫn, nhưng không nắm vững yếu lĩnh của khí công cũng như công lý của bài tập.
3/ Bài tập không thích ứng với trình độ, sức khỏe, bệnh tình hoặc cơ thể của người tập.
4/ “Đứng núi này trông núi nọ”; nay luyện công pháp này, mai luyện công pháp kia; hoặc mới bắt đầu tập đã tập ngay phần cao cấp; hoặc tự ý thay đổi công pháp.
5/ “Đặt cái cày trước con trâu”, chưa tụ khí được đã dùng ý dẫn khí đi lung tung.
6/ Không biết vận dụng hỏa hầu, tập quá lâu, ví như nấu cơm khét vậy.
7/ Lúc luyện công đột nhiên bị kích động, giật mình kinh hoàng hoặc trong tâm trí hiện ra “ma cảnh” làm tinh thần hỗn loạn.
Vậy làm thế nào ứng phó với các tai biến đó? Đây là một vấn đề quan trọng, có thể làm những người hâm mộ khí công sợ hãi mà xa lánh, mất đi một cơ hội cải thiện tình trạng sức khỏe và bệnh hoạn của chính mình.
Việc ứng phó với các tai biến có hai phần:
1/ Loại trừ các nguyên nhân gây ra tai biến.
2/ Điều trị các tai biến.
Muốn loại trừ hiệu quả các nguyên nhân gây ra tai biến, tốt nhất là phải có thầy hướng dẫn. Thầy ở đây là thầy có khả năng thực sự, có kinh nghiệm trong việc luyện công và hướng dẫn người khác luyện công, dĩ nhiên là phải có khả năng trị bệnh cho môn đồ. Ở bên Yoga, người ta rất thận trọng khi chọn “guru” cho mình.
Về phần điều trị các tai biến đã mắc phải, phải tùy trường hợp mà định liệu, khó đưa ra trước liệu pháp cụ thể cho từng trường hợp. Tuy nhiên, qua kinh nghiệm thực tiễn, các nhà khí công cũng có đề xuất một số giải pháp có hiệu quả cho các tai biến tổng quát khi luyện công như sau ;
1/ Phóng tung công ;
2/ Quán khí pháp ;
3/ Lục tự công ;
4/ Chỉ quán pháp ;
5/ Phách đả pháp ;
6/ Dược phẩm.
Người bệnh phải tùy cơ mà chọn một, hoặc phối hợp hai ba môn trên đây để điều trị, chứ không phải áp dụng tất cả.
I- Phóng tung công :
“Tung” là không căng, phàm cái gì hư mà không thực, hoãn mà không gấp đều là tung. Đó là trạng thái không căng thẳng – tức buông lỏng, thư giãn. “Phóng tung công” lấy tung làm chủ, kết hợp với tĩnh mà đi sâu vào “Tĩnh công”.
Xuất xứ từ “Ủy thân pháp” vào thời đại Tùy Đường ở Trung Quốc, đến năm 1957 được Viện Liệu dưỡng khí công ở Thượng Hải ứng dụng, chỉnh lý thành “Tam tuyến phóng tung công” để điều trị một số chứng bệnh mãn tính.
Người bị tai biến lúc luyện công là do căng thẳng cơ thể và tinh thần, cho nên dùng phóng tung công để giải trừ các căng thẳng là hợp lý vậy. Hơn nữa, trong trạng thái buông lỏng, cơ thể sẽ tự hồi tác.
Cơ bản của phóng tung công là chia thân thể ra ba đường để lần lượt tiến hành thư giãn từng phần một :
- Đường thứ nhất: Hai bên đầu – hai bên cổ - vai – cánh tay – khuỷu tay – cẳng tay – cổ tay – bàn tay – ngón tay (đầu ngón giữa)
- Đường thứ hai: mặt – cổ - ngực – bụng – đùi – gối – cẳng chân – bàn chân – ngón chân (đầu ngón cái).
- Đường thứ ba: chẩm – gáy – lưng – thắt lưng – mặt sau đùi – mặt sau đầu gối – bắp chân – lòng bàn chân.
Cách tập:
Nằm ngửa trên một chiếc chiếu hoặc mền trải trên sàn nhà, quần áo nới lỏng, đầu ngay thẳng trong tư thế thoải mái.
Tay buông xuôi hai bên, lòng bàn tay ngửa, cách thân mình khoảng hai tấc.
Chân duỗi dài tự nhiên, hai bàn chân cách nhau khoảng hai tấc, các ngón chân buông lỏng hướng ra ngoài.
Mắt khép hờ, miệng ngậm tự nhiên, hai hàm răng khẻ chạm nhau, đầu lưỡi cong lên vòm miệng. Hít thở tự nhiên bằng mũi, nhẹ, đều và sâu.
Tập trung ý nghĩ vào từng bộ phận, lúc thở ra cảm thấy bộ phận đó buông lỏng. Cụ thể như sau: Bắt đầu từ đường thứ nhất, hít vào nghĩ tới hai bên đầu, thở ra niệm thần “giãn”; tiếp theo đến hai bên cổ, lần lượt đến các ngón tay. Đến đây nhẹ nhàng ý thủ tại đầu ngón tay giữa từ 1 đến 2 phút. Rồi tiếp qua đường thứ hai, lần lượt giãn từ mặt đất đến các ngón chân, thủ ý tại các đầu ngón chân cái từ 1 đến 2 phút. Xong lần lượt giãn các bộ phận ở đường thứ ba, thủ ý tại lòng bàn chân.
Lặp lại từ 2 đến 3 vòng. Sau cùng thủ ý tại rốn từ 3 đến 4 phút.
Yên tĩnh một lúc rồi thu công: tay phải xoa quanh rốn 36 vòng theo chiều kim đồng hồ, tai trái xoa 36 vòng theo chiều ngược lại.
Thời gian luyện công được căn cứ vào bệnh tình và thể lực, thường thì mỗi ngày luyện từ 2 đến 40 lần, mỗi lần khoãng 30 phút. Hiệu quả chỉ đến sau nhiều tháng luyện tập không gián đoạn.
II- Quán khí pháp:
Là công pháp cơ bản của Mã lai khí công, do Mã Xuân thuộc Sở nghiên cứu Trung y Thượng Hải, Trung Quốc phổ biến. Quán khí thích hợp với người mới học, người bệnh, người già sức yếu, mà “khí cơ” rối loạn, thượng tiêu đầy, hạ tiêu thiếu. Vấn đề trước tiên là xoay ngược lại tình huống này, chuyển trên thực dưới hư thành trên hư dưới thực, gạn đục khơi trong, làm cho khí từ chỗ loạn trở lại thuận, từ nghẹn trở thành thông.
Thông qua động tác của hình thể, quán khí pháp dùng ý niệm dẫn dắt khí vận hành, đạt đến chỗ kết hợp hình – ý – khí. Luyện lâu ngày sẽ sản sinh khí cảm, kinh lạc thông suốt, bệnh tật tiêu trừ, điều chỉnh mọi sai lệch trong việc luyện công.
Tương tự như phóng tung công, cơ bản của quán khí pháp là chia thân thể ra 3 đường và 3 phiến để lần lượt quán khí:
- Đường thứ nhất từ huyệt Bách Hội ở đỉnh đầu chia ra làm hai – 2 tai – hai bên cổ - hai lõm xương đòn – hai vú rồi hợp lại rốn – huyệt Hội Âm (ở giữa bộ sinh dục và hậu môn) lại phân ra làm hai – phía trong 2 đùi – huyệt Dũng Tuyến (ở lòng bàn chân);
- Đường thứ hai từ huyệt Bách Hội thẳng xuống huyệt Hội Âm, phân ra làm hai theo tủy xương chân đến huyệt Dũng Tuyền.
- Đường thứ ba huyệt Bách Hội phân làm hai theo hai bên cột sống đến huyệt Mạng Môn (dưới đốt sống thắt lưng 2), tỏa ra đến hai huyệt Hoàn Khiêu (ở giữa mông) – phía sau hai đùi đến huyệt Dũng Tuyền.
- Phiến thứ nhất là mặt phẳng ở phía trước cơ thể từ huyệt Bách Hội đến huyệt Dũng Tuyền..
- Phiến thứ hai là mặt phẳng cắt lớp giữa cơ thể Bách Hội đến huyệt Hội Âm ngang qua tạng phủ, rồi cắt lớp giữa hai chân đến huyệt Dũng Tuyền.
- Phiến thứ ba là mặt phẳng sát phía sau cơ thể từ huyệt Bách Hội qua lưng – mông – sau hai chân đến huyệt Dũng Tuyền.
Cách tập:
Hai chân đứng thẳng, dang rộng bằng hai vai, các ngón chân trái và trỏ hơi móc vào trong, bám chặt xuống đất. Hai đầu gối hơi cong, nhưng không vượt quá đầu ngón chân. Thân mình thẳng, sao cho 3 huyệt Bách Hội – Hội Âm – và điểm giữa đường thẳng nối liền 2 huyệt Dũng Tuyền đều nằm trên một đường thẳng, gọi là “tam điểm nhất tuyến”. Chót mũi và rốn cũng ở trên một đường thẳng. Eo lưng, hậu môn, háng và mắt cá đều buông lỏng (như lúc đại tiện). Hai mắt khép hờ (thùy liên). Hai tay buông thỏng tự nhiên xuống hai bên.
Sau khi đứng yên một lúc, hai cánh tay đưa nhanh lên khỏi đầu, cổ tay hơi cong, mu bàn tay hướng lên trên, chưởng chiếu vào huyệt Bách Hội.
Hai tay từ từ di chuyển xuống phía trước thân mình, dùng tay trợ ý, lấy ý dẫn khí chạy như giọt nước từ đỉnh đầu theo đường thứ nhất xuống lòng bàn chân, chui vào đất khoảng 3 thước, đến đây thì hai tay buông lỏng tự nhiên.
Tạm ngưng vài mươi giây, rồi lập lại nhiều lần cho thuần thục mới lần lượt chuyển qua đường thứ hai, thứ ba, các phiến thứ nhất, thứ hai, thứ ba.
Sau khi thông suốt 3 đường và 3 phiến, quán khí từ Bách Hội theo toàn thân đi xuống Dũng Tuyền, vào sâu dưới đất 3 thước.
Phản ứng:
Sau một thời gian kiên trì luyện tập, hành giả sẽ thấy xuất hiện một số phản ứng, khác nhau tùy người:
a/ Tay chân phát nóng hoặc tê.
b/ Thân trên nóng, hai chân lạnh.
c/ Toàn thân phát nóng, nhưng tỉnh táo.
Các hiện tượng này được xem là “đắc khí”.
Chú ý:
1/ Hai tay đưa lên phải nhanh, qua khỏi đỉnh đầu ; hạ xuống càng chậm càng tốt.
2/ Hai tay xuống đến điểm tận cùng thì buông thỏng tự nhiên; dừng lại một chút chờ troc khí xuống hết, vào sâu trong lòng đất rồi mới tập tiếp.
3/ Điểm then chốt là dùng ý quán khí, cho nên tư thế có thể linh hoạt, hai tay có thể bất động. Có thể ngồi hoặc nằm để luyện.
4/ Hô hấp phải tự nhiên, tức là đừng chú ý tới hô hấp.
5/ Mỗi ngày tập ít nhất một lần, mỗi lần quán khí 9 lượt. Kỵ nhất là một ngày luyện mười ngày nghỉ. Mỗi lần luyện được nữa giờ trở lên, được coi là đạt.
III – Lục tự công:
Gồm 6 chữ “xuy” dưỡng can, “khơ” bổ tâm, “hu” kiện tỳ, “xư” phanh phế, “shuây” cường thận và “xi” lý tam tiêu.
Tương truyền do Xích Tùng Tử sáng tạo, được Đào Hoằng Cảnh ghi chép trong quyển “Dưỡng sinh diên mệnh lục”, Tôn Tư Mạo trong quyển “Thiên kim phương”, Chu Phác Am trong quyển “Thái thượng ngọc trục lục tự khí quyết”, Cao Khiêm trong quyển “Tôn sinh bát tiên”, Hồ Văn Hoán trong quyển “Tu loại yếu quyết” và nhiều quyển khác. Hiệu do Mã Lễ Đường giảng dạy dưới tên là “Dưỡng Khí Công”.
Lục tự công dựa vào quan điểm “Thiên nhân tương ứng” của y học cổ truyền; sáu âm thở ra chấn động tạng phủ, khí thông kinh lạc, vận hành khí huyết, điều lý âm dương, từ đó mà đạt mục đích trừ khử bệnh tật, tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ. Vậy khi tai biến do luyện công sai làm tổn thương đến tạng phủ, ta phải dùng Lục tự công để chữa trị.
Cách tập:
Tư thế: có thể đứng (như ở Quán khí pháp), ngồi (trên ghế hay xếp bằng), hoặc nằm (như ở Phóng tung công).
Thời gian tập lấy 6 giờ dương ( từ 11 giờ đêm đến 11 giờ trưa hôm sau) làm chủ, mặt quay hướng Nam, tư thế yên tĩnh.
Trước hết, hai hàm răng đập nhẹ vào nhau 36 lần, lấy lưỡi khuấy trong miệng 9 lần rồi đưa lên chạm vòm họng, chờ nước miếng chảy ra đầy mà súc miệng mười lần, rồi từ từ nuốt xuống, lấy ý dẫn xuống đan điền.
Hít hơi vào ở mũi, thở hơi ra bằng miệng, hơi cúi đầu, miệng chúm niệm thần âm chữ, tai không nghe được tiếng niệm cũng như tiếng hít vào, đồng thời nâng hậu môn lên và tóp bụng lại.
Chữ “xuy” đẩy khí nóng tích tụ trong gan ra ngoài, trị nhức đầu, chóng mặt, mắt đỏ, đau sườn, huyết áp cao, hay giận.
Hai bàn tay chồng lên nhau đặt trên bụng dưới, nam thì trái dưới phải trên, nữ thì phải dưới trái trên, mắt mở to, nội thị vùng gan, thở ra với âm “xuy”, thư giãn, hít vào lặp lại 6 lần.
Chữ “khơ” trừ mọi nhiệt hỏa trong tâm, trị tim loạn nhịp, phiền não bất an, khó ngủ, miệng lưỡi mọc mụn.
Hít vào đồng thời nâng hai tay lên như “đỡ trời”; thở ra âm “khơ” đồng thời vòng hai tay xuống ấn trước bụng. Lặp lại 6 lần.
Chữ “hu” tiêu trừ mọi trọc khí ở Tỳ, trị bụng trướng, ợ chua, không tiêu.
Khi hít vào, nâng hai tay lên ngang trán, chưởng hướng ra ngoài; khi thở ra âm “hu”, hai tay theo hình vòng cung đưa xuống bụng dưới. Lặp lại 6 lần.
Chữ “xu” khử mọi tích khí trong phổi, trị tức ngực, nhiều đờm, miệng khô, ho hen.
Khi hít vào, hạ hai tay xuống bụng dưới; khi thở ra âm “xu”, nâng hai tay lên ngang ngực, chưởng hướng ra ngoài. Lặp lại 6 lần.
Chữ “shuây” giải tỏa mọi khí hư nóng trong trong thận, trị đau đầu, tai ù, đau lưng, mỏi gối, yếu dương, di tinh, tảo tinh, thống kinh.
Khi hít vào, hai tay để trước ngực; khi thở ra âm “shuây” vòng hay tay ôm đầu gối. Lặp lại 6 lần.
Chú ý:
1/ Mỗi chữ 6 lần x 6 = 36 lần là một tiểu châu thiên. Mỗi lần luyện 3 tiểu châu thiên, ngày 3 lần luyện (khuya, sáng, trưa).
2/ Tập tự nhiên, không miễn cưỡng; nếu thấy khó chịu thì phải ngưng ngay.
3/ Không ăn uống quá no; không hút thuốc, uống rượu.
IV – Chỉ quán pháp:
Do Trí Khải đại sư, đời Ngũ đại, Trung Quốc biên soạn. Sách chép nguyên do của pháp này như sau: tham tướng Trần Châm, lúc 40 tuổi, đang đi thì gặp Trương Quả Lão, một trong bảy tiên, cho biết là dương thọ đã hết, chỉ còn sống được một tháng mà thôi. Trần Châm kinh sợ, đến tham vấn em mình là Trí Khải đại sư, và được chỉ dạy phép chỉ quán. Từ đó, ông y theo phương pháp mà tha thiết tu trì. Hơn một năm sau gặp lại, Trương Quả Lão ngạc nhiên hỏi lí do, ông bảo: “Do em tôi dạy tu tập chỉ quán pháp đó!”. Đến gần 20 năm sau, Trần Châm mới tạ thế một cách yên ổn.
Chỉ là dừng ý niệm lại, bằng 3 cách:
a/ Ý thủ tại chót mũi hoặc giữa rốn khiến tâm không tán loạn, như xích con vượn lại.
b/ Ý tưởng vừa khởi liền kềm lại, không cho nó dông ruổi tán loạn.
c/ Không chấp ý tưởng vì nó không có tự tánh; không chấp thì vọng niệm tự dứt.
Quán có nghĩa là dùng tâm tĩnh soi rọi bên trong, thấy mọi thứ đều do nhân duyên sinh, không có thật tướng.
Khi gặp tai biến, tùy chứng mà chọn phép trị. Dùng chỉ để trị bằng cách an tâm ngưng lại chỗ bệnh tức bệnh lành. Tại sao? Vì tâm chủ thần minh vậy, vua đến đâu thì trộm cướp bị quét sạch đến đó – ngoài ra, cũng có thể ngưng tâm ở đan điền, hoặc Dũng Tuyền.
Dùng quán để trị tức là vận dụng “lục tư công”, hoặc khéo dùng 12 hơi thở : thở lên trị bệnh trầm trọng, thở xuống trị bệnh lơ lững, thở đầy trị bệnh khô gầy, thở tiêu trị bệnh thũng, thở tăng trưởng trị bệnh ốm yếu , thở diệt hoại trị bệnh tăng trọng, thở ấm trị bệnh lạnh, thở lạnh trị bệnh nóng, thở xông lên trị bệnh nghẹn, thở gìn giữ trị bệnh lăn lộn, thở điều hòa trị tứ đại bất hòa, thở bồi bổ dưỡng tứ đại suy kém.
Nếu bệnh lạnh hãy quán trong thân có hơi lửa xông ra thì bệnh lành. Hoặc giả, quán không có chổ sinh bệnh thì bệnh cũng lành. Đây là chỗ tâm đắc của chúng tôi, mỗi lần nghe đau nhói ở vùng tim hoặc đau quặn bụng, tôi ngồi yên, dứt các vọng niệm, quán trong lồng ngực không có tim, toàn thể trống rỗng thì cơn đau dịu ngay; hoặc buông lỏng vùng rốn, khi cảm giác vùng này ấm lên là bệnh lành.
V – Phách đả pháp:
Là phép dùng lòng bàn tay khum lại vổ lên chỗ đau. Đây là nguyên lý của “mìn lõm” tất cả các lực trong bàn tay đều tập trung vào một điểm nên có hiệu quả cao.
Phách đả pháp có công hiệu đối với tai biến do luyện công sai, nội khí đình trệ ở một bộ phận cơ thể, hoặc ngoại động không ngừng, hoặc nhập “ma cảnh” – tức ảo cảnh.
Có hai loại:
- Phách đả cục bộ.
- Phách đả toàn thân.
Phách đả cục bộ áp dụng vào tai biến ở một bộ phận, chẳng hạn như đau tê ở thắt lưng thì vỗ vùng thắt lưng.
Phách đả toàn thân áp dụng vào tai biến có tính cách toàn thể như múa may không ngừng, mất trí bần thần hoặc điên cuồng cười khóc.
Thường phách đả các vùng sau đây:
1/ Dọc theo mạch Đốc (dọc theo cột sống từ chẩm đến xương cùng), vỗ từ trên xuống, rồi từ dưới lên từ 10 đến 30 lần. Mỗi lần vỗ, bệnh nhân thở ra bằng mũi. Lúc vỗ, hai cổ tay phải linh hoạt, không dùng sức mạnh, mà sức chịu đựng của bệnh nhân.
2/ Dọc theo kinh Bàng Quang (tức 4 đường song song với mạch Đốc, cách mạch Đốc khoảng 3 và 6cm), cũng vỗ lên xuống như trên ( từ vai xuống mông và ngược lại).
3/ Dọc theo kinh Đởm (ở hai bên mình) vỗ từ vai xuống hông, mặt ngoài đùi đến đầu gối rồi vỗ ngược lên.
VI – Dược phẩm:
“Đói ăn rau, đau uống thuốc”, thuốc rất cần thiết để trị bệnh, tai biến do luyện công sai cũng không ngoài trường hợp này.
Vì tai biến có nhiều loại, nên dùng thuốc phải tùy chứng bệnh, không thể đưa ra phương thuốc mẫu để áp dụng chung được. Điều cần thiết là đi khám bác sĩ hoặc lương y để việc điều trị được chính xác.
Tuy nhiên, qua nghiệm thực tiễn trong ngành khí công, người ta cũng đề ra vài phương thuốc cơ bản như sau:
1/ Lục vị địa hoàng thang (hoặc hoàn).
Thục địa 32g
Sơn thù 16g
Sơn dược 16g
Trạch tả 12g
Đơn bì 12g
Bạch linh 12g
Chữa âm hư, hư hỏa bốc lên gây đau lưng mỏi gối, chóng mặt, ù tai, mồ hôi trộm, di tinh, nhức trong xương, triếu nhiệt, khát nước, đau răng, lưỡi khô họng đau, lòng bàn tay và bàn chân nóng, suy nhược thần kinh, huyết áp cao, lao phổi, lao thận, đái đường.
2/ Thiên vương bổ tâm đan (hoặc thang)
Đảng sâm 20g
Đan sâm 20g
Huyền sâm 20g
Bạch linh 20g
Ngũ vị trỉ 40g
Bá tử nhân 40g
Sinh địa 160g
Toan táo nhân 40g
Viễn chí 20g
Cát cánh 20g
Đương qui 40g
Thiên môn 40g
Mạch môn 40g
Chữa mất ngủ, hồi hộp, mồ hôi trộm, suy tim.
3/ Báu hạ hậu phác thang
Bán hạ chế 8g
Hậu phác 6g
Bạch linh 8g
Tô diệp 6g
Sinh khương 6g
Chữa đờm khi uất kiết, khạc không ra, nuốt không xuống, ngực sườn đầy tức, ho hen, khó thở, nôn mửa, rối loạn thần kinh chức năng.
4/ Lục quân tử thang
Phòng đảng sâm 12g
Bạch linh 8g
Bạch truật 12g
Cam thảo 4g
Trần bì 8g
Bán hạ chế 6g
Chữa khí tì vị hư, viêm phế quản mạn tính, ăn kém, phân nhảo, nhiều đờm.
5/ Toan táo nhân thang
Toan táo nhân 16g
Tri mẫu 12g
Bạch linh 12g
Xuyên khung 8g
Cam thảo 4g
Chữa can huyết không đủ gây mất ngủ, hư phiền, hồi hộp, mồ hôi trán, chóng mặt, hoa mắt.
TNA