Bệnh thấp khớp

28-11-2007 12:15

 

Bác sĩ NGUYỄN VĂN HƯỞNG

Bác sĩ HUỲNH UYỂN LIÊN

 

Bệnh thấp khớp là danh từ chung gồm những bệnh có triệu chứng đau ở khớp, giảm khả năng cử động và nhiều khi có biến dạng khớp xương. Tuy là một bệnh toàn thân, nhưng việc cư trú bệnh ở khớp là triệu chứng chính, hoặc ở tim gây thương tật tim là nguy hiểm nhất.

 

 A. CƠ THỂ HỌC KHỚP (1)

 

Cái khớp là một kiệt tác của tạo hóa để làm cho cơ thể con người hoạt động với phạm vi rộng hẹp tùy mỗi khớp, kết hợp được sự khéo léo và sức mạnh tối ưu của động tác. Khớp gồm 10 bộ phận phức tạp bảo đảm sức chức năng vận động của khớp. (Hình Z)

Hình Z

1.                  Đầu xương với sụn chống va chạm.

2.                  Sụn tiếp hợp của xương để cho xương phát triễn theo chiều dài.

3.                  Sụn trung gian để làm tấm đệm giữa hai đầu xương.

4.                  Dây chằng để giữ 2 đầu xương không trặc ra ngoài.

5.                  Màng hoạt dịch, nước hoạt dịch, để cho khớp trơn dễ cử động.

6.                  Bao khớp cho hoạt dịch không ra ngài.

7.                  Cơ và gân cơ để cử động khớp. Gân cơ có vai trò quan trọng như gân Asin (Achille), gân đầu gối.

8.                  Dây thần kinh, các điểm đau á-thị-huyệt và điểm đau cơ-thể-học. Có thể châm cứu, bấm để trị bệnh khớp. Giao cảm thần kinh có vai trò quan trọng trong việc dinh dưỡng các bộ phận của khớp.

9.                  Động mạch và tĩnh mạch bảo đảm tuần hoàn nuôi dưỡng khớp và thải chất độc cho khớp.

10.              Da bảo vệ khớp và thải chất độc của khớp bằng đường mồ hôi.

Hình Z1 chỉ rõ các bộ phận của khớp. 

Hình Z1
  

Hình này trình bày 4 đốt sống, 3 đĩa đệm và 3 dây thần kinh sống chui qua 3 lỗ kết hợp. Do đốt sống thứ nhì trạc ra phía sau nên dây thần kinh thứ nhì bị kẹt và teo lại làm đau cột sống và rối loạn chức năng. Các bộ phận tạng phủ thuộc phạm vi điều khiển của giây thần kinh bị kẹt : nguyên nhân cột sống tất rõ ràng. Muốn trị được các bệnh nguồn gốc cột sống thì phải dùng thủ thuật và dụng cụ vật lý : xoa bóp, nhồi nắn, kéo giãn, mở két, sửa cột sống, sửa trặc, thư giãn, treo xà đơn, ngồi ngay, khí công, thúc đẩy tuần hoàn, tập thể dục, ủ nóng, bó bột, uống thuốc, mới giải phóng được các dây thần kinh sống.

 

B. NHỮNG BỆNH THẤP KHỚP ĐIỂN HÌNH 

1.                  Bệnh viêm da khớp mãn tính tiến triển (PCE = Polynévrite chronique évolutive).

2.                  Bệnh hư khớp (arthrose).

3.                  Viêm quanh khớp vai – cánh tay (Périarthrite scapulohumérale).

4.                  Bệnh thấp khớp cấp (bệnh Bouillaud) RAA.

5.                  Bệnh thống phong (goutte).

Trong bài này chỉ tình bày 3 bệnh trên thuộc phạm vi khả năng giải quyết của phương pháp dưỡng sinh. Còn bệnh thấp khớp cấp và bệnh thống phong (goutte) phải đi bác sĩ điều trị.

 

I. VIÊM ĐA KHỚP MÃN TÍNH TIẾN TRIỄN (Polyyarthrite chronique évolutive = PCE).

 

1.                  Định nghĩa :

Bệnh mãn tính có đặc điểm là tổn thương ở cả hai bên và đối xứng của các khớp xương có kèm đau, biến dạng khớp có thể tiến triển tới cứng khớp. Đây là một bệnh toàn thân tiến triển qua những đợt xen kẽ với những thời kỳ thuyên giảm hoàn toàn.

2.                  Hoàn cảnh xuất hiện :

Chủ yếu là từ 30 đến 50 tuổi, ở phụ nữ nhiều hơn gấp 2-3 lần so với nam giới, đặc biệt hay gặp ở phụ nữ khi mãn kinh. Khí hậu ôn nhiệt đới và thấp dễ phát sinh.

3.                  Giải phẫu bệnh học :

Lúc khởi đầu màng hoạt dịch xung huyết, phù và rỉ ra một thứ dịch thanh tơ (séto-fibrineux) ở trong ổ khớp, các rìa bị phì đại và tăng sinh. Dần dần mô hạt xâm lấn ổ khớp và tạo thành một cái “màng mô liên kết mạch máu” ngày càng xơ hóa và cố định khớp xương (cứng khớp). (pannusconjon ctivo-vasculaire).

Tổn thương sụn là thứ phát = thoái hóa, nứt rẽ, loét. Đầu xương bị loãng xương có kẽm những điểm tăng sinh mô liên kết mạch máu làm sụp đỗ sụn đầu xương và gắn liền vào màng hoạt dịch (cứng khớp).

Hơn nữa còn thấy những hòn dưới da gồm có một ổ hoại tử trung tâm, chung quanh có mô bào (histiocyte) và mô xơ tăng sinh. Các cơ và bao dây thần kinh ngoại vi có những hạt vi thể do những nhóm lympho bào tạo thành.

Trong 25-40% tử thi được mổ, có viêm màng ngoài tim, 20% cơ thoái hóa dạng tinh bột ở thận và gan. Có những u-hạt dạng thấp ở tim phổi, màng phổi. Các tổn thương trên chứng tỏ bệnh viêm đa khớp mạn tính tiến triễn là một bệnh toàn thân.

4.                  Bệnh căn

Chưa rõ. Các ổ nhiễm khuẩn không phải là yếu tố nguyên nhân mà chỉ là yếu tố khởi phát trong một số trường hợp.

Trong huyết thanh đã tìm ra “một số yếu thấp” trong 70-90% trường hợp bệnh. Đó là một đại globulin (macroglobulin) di chuyển cùng với gammaglobulin. Phản ứng Rose và phản ứng Latex phát hiện ra “yếu tố thấp” đó.

 

Yếu tố phụ

a-                  di chuyền : có vai trò nhất định.

b-                 Sốc (chấn thương) tinh thần hoạt thân thể.

c-                  Môi trường : Theo Đông y : Phong-Hàn-Thấp (gió, lạnh, ẩm ướt).

d-                 Nội tiết : Tác dụng của ACTH và cortison.

Thai nghén làm thuyên giảm bệnh thấp khớp.

5.                  Triệu chứng

a-                  Phương thức khởi đầu. Báo hiệu : mệt mỏi, chán ăn và sút cân, hoặc khởi phát bằng một bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, hoặc một chấn thương tâm thần hay một chấn thương thân thể (phẫu thuật). Nhiệt độ không cao, lối 37 độ 5, có đau khớp di truyền, trước nhẹ sau nặng và đau cơ.

b-     Thời kỳ xâm nhập. Ban đầu khó đoán bệnh, phải 2-3 tuần hoặc 2-3 tháng triệu chứng mới rõ rệt.

b1 - Đau khớp có kèm hoạt động hạn chế.

b2- Các khớp bị viêm : đau, đỏ nóng, sưng, đi đứng khó khăn. Tràn dịch ở khớp có thể nhiều ít, chủ yếu ở khớp gối.

Các khớp ngón tay, ngón chân bị trước, rồi cổ tay cổ chân, rồi đến cùi trỏ, đầu gối, rồi đến vai, háng một cách đối xứng.

 

c. Thời kỳ toàn phát. Các viêm khớp tiến triển tới cứng khớp và biến dạng, do các mô xơ và do cơ cứng. Có thể bệnh phát triễn ở cột sống : các đốt sống cổ đôi khi bị tổn thương cho nên đầu bị cúi xương ức.

Các biến dạng mới đầu còn sửa chữa được, về sau thành vĩnh viễn làm cho bệnh nhân đi đứng khó khăn, đôi khi phải ngồi xuống lết.

    

 d-   Các biểu hiện ngoài khớp.

   

d1 : da và móng : da mỏng, láng, lạnh (ngoài cơn viêm) tróc vẩy phấn, có những vết sắc tố, móng chân tay teo lại, không bóng loán, và có khía. 10% bệnh nhân có hòn dưới da từ 2-20 m/m chung quanh khớp ở mỏm, khuỷu, cổ tay, ngón tay, có thể lưu tồn nhiều tháng, nhiều năm và bị loét da.

 

d2 : Rối loạn mắt : viêm mống mắt, sợ chói và chảy nước mắt.

 

d3 : Các hạch phía trên khớp, đôi khi to ra.

 

d4 : Lách có thể to ra trong 5-10% trường hợp.

 

d5 Thiếu máu.

e – Các xét nghiệm

e 1 Hoạt dịch : dục vàng 10 000-30 000 bạch cầu với 90% bạch cầu  đa nhân .

 

e 2 : Để phát triễn yếu tố thấp do đại globulin (macro globulin) trong máu, cần làm thử nghiệm Rose và thử nghiệm Latex.

 

6.                  Đoán bệnh phân liệt

6.1- Với thấp khớp cấp (RAA). Nguy hiểm nhất trong bệnh thấp khớp cấp là thường có tổn thương tim (hở và hẹp van tim).

6.2- Luput ban đỏ rãi rác (Lupuserythémateux disséminé).

Bệnh này có triệu chứng khớp giống PCE và nhiều triệu chứng khác ngoài da (Lupus), thận, tim… có tế bào L.E. Hargraves trong máu và tủy xương.

6.3- Hư khớp : Không có biểu hiện toàn thân. Khi nghỉ ngơi thì đau khớp đỡ, viêm khớp không đáng kể.

6.4- Thống phong : Thường khởi đầu ở ngón chân cái, có nhiều axít uric trong máu đáp ứng tốt vơi cây Colchicum autumnale.

6.5- Viêm khớp mũ : Nhiễm khuẩn huyết, có ổ nhiểm khuẩn ở trong hoạt dịch (lậu, giang mai, phế cầu…)

7.                  Tiên lượng :

Phụ thuộc vào bệnh trị sớm hay muộn. Sau 10 năm bị bệnh trên 100 bệnh nhân : 15% phải nằm viện, 35% không kiếm sống nổi, 50% khó có cuộc sống bình thường.

 

8.                  Điều trị

 

Ai cũng công nhận rằng các thuốc Tây y, corticoit và thuốc chống đau trị thấp khớp có những tác dụng phụ hệ trọng và chỉ chữa được các triệu chứng. Vậy phải dùng : dưỡng sinh , châm cứu, thuốc Nam-Bắc chỉ trong trường hợp đặc biệt mới cần đến thuốc Tây y.

 

a-                  Trong cơn tiến triễn phải nghỉ ngơi, dùng các phương pháp vật lý: xoa bóp thuốc nóng tại chỗ, xoa bóp nhẹ, cử động nhẹ, đặt khớp trong tư thế tối ưu để vận động phòng trường hợp cứng khớp, dùng thuốc nam là chủ yếu : vòi voi, lá lốt, cành dâu tầm, lá dâu, thổ phục linh, cỏ xước, rễ cây gấc, rễ cây bưởi bung, cây lá cối xay, rễ cây độc lực, cà gai leo, ngũ gia bì, cây rung rúc, cây bươm bướm, hà thủ ô đỏ và trắng, ô nhược, tăng ký sanh, xích đồng nam, bạch đồng nữ, cây roi ngựa, cây chỉ thiên, xuyên điền nhất, bạch hoa xà.

 

Thuốc Bắc : quế chi, bạch thược, xích thượng, phòng phong, khương khương hoạt, khương hoàng, tần giao, phuc linh, xích linh.

 

- Một công thức tốt :

            Hà thủ ô trắng         12g

            Huyết rồng              10g

            Rễ nhào                    8g

            Thiên niên kiện          6g

            Ngũ gia bì                 6g

            Ngưu tất                   8g

            Thần thông                2g

            Quế chi                     2g

 

Sắc uống mỗi ngày. Hoặc bốc thuốc 10 thang như trên, ngâm với 2700ml rượi 25 độ, 10 ngày, lọc, thêm 270g đường cát. Ngày uống 30ml trước bữa ăn chính.

 

Một phương pháp công hiệu là cho ong chích nọc chung quanh khớp.

 

Luyện tâp dưỡng sinh : Áp dụng ngoài các cơn tiến triển, không có sốt, còn đau ít, cứng khớp. Phải áp dụng 8 phép dưỡng sinh một cách quyết tâm, kiên trì, liên tục.

 

Phải dám vào hang cọp, mới săn được cọp. Cọp đây là bệnh thấp khớp, phải chịu đau (có thể chịu bệnh, không quá sức chịu) mới trị được bệnh.

 

Ví dụ : Động tác kéo tay.

 

Hình Z2
Chuẩn bị : Ngồi hoặc đứng, 2 tay đưa thẳng ra phía trước, 2 bàn tay và ngón tay chéo nhau, ngón cái phía dước, hai lòng bàn tay ốp vào nhau. (Hình Z2).

 

Động tác : Rút hai bàn tay vào trước ngực, lật lên phái trên, đưa thẳng ra trước, rồi rút hai bàn tay vào trước ngực, lật xuống phía dưới, đưa thẳng ra, trở về chổ cũ. Thở tự nhiên. Có thể làm 5-10 động tác như thế.

 

Hình Z3
Tác dụng : trị thấp khớp ở chi trên. Đối với khớp khác, cũng phải tập tối đa và triệt để theo mấy động tác của phương pháp tập dưỡng sinh. (Hình Z3).

 

Về động tác : phải vận động tối đa trong phạm vi hoạt động của khớp nếu khớp chưa đau lắm. Nếu đau nhiều và có biến dạng phải áp dụng các kỹ thiật sau :

 

1.    Xoa bóp từ ngoài vào trong, có khi từ 15’-30’ 45’-60’ cho khớp ấm và giãn ra.

 

 2.  Phải kéo giãn khớp : nếu khớp lưng đau, phải treo xà đơn cho sức nặng kéo ra, nếu khớp cổ thì phải dùng dụng cụ nâng chống cổ dựa trên hai vai, nếu khớp chân, tay, phải kéo bằng trái cân có ròng rọc và dây, nếu cần cho giường nghiên đầu thấp để cân bằng với trái cân kéo rút.

       

 3. Phải tập động tác thể dục, xoa bóp, yoga. Trong mọi động tác phải cung cấp đủ Oxy và tốt CO2 do các cách thở của PPDS.

 

II. BỆNH HƯ KHỚP (ARTHROSE)

 

1.      Định nghĩa:

Quá trình thoái hóa của các khớp xương, mới đầu khu trú ở sục đầu xương của khớp rồi đến bao hoạt và dây chằng, xuất hiện ở người quá 40 tuổi và gây thương tổn ở những khớp chịu đựng sức nặng của thân, phần lớn là người mập, béo.

 

2.  Triệu chứng :

 

-               Đau ban đầu ít sau nhiều và liên tục

-               Hạn chế cử động

-               Mọc gai xương

Xét nghiện : không có tắng tốc độ lắng hồng cầu, không thiếu máu, bạch cầu không tăng.

 

3.  Khu trú

 

Gối, háng, đốt sống cổ, lưng, vai, ngón tay, bàn tay.

 

4.  Điều trị

 

   Đây là một bệnh suy thoái khớp của tuổi già.

 

  Tập dưỡng sinh vừa sức có thể vươn lên. Thêm các thuốc bổ dưỡng của người già.

 

III. BỆNH VIÊM QUANH KHỚP VAI - CÁNH TAY (Périarthrite scapulohumérale)    

 

1. Đồng nghĩa

Viêm quanh khớp vai, viêm gân vôi hóa.

 

 2. Định nghĩa :

Hội chứng đau vai, có kèm cứng khớp và đôi khi mất cử động do những tổn thương thoái hóa xác mô gân ở vai, có hoặc không kèm viên bao hoạt dịch kết hợp (thể bệnh cứng khớp).

 

3.  Bệnh cặn :

Là một bệnh thoái hóa làm hư khớp. Thể nguyên phát gặp ở phụ nữ hơn là nam giới. Thể cứ phát đi kém một số bệnh khác.

 

4. Giải phẫu bệnh học :

    Tổn thương thoái hóa thường gặp ở người quá 40 tuổi gồm viêm gân của cơ vai, có                       vôi hóa ở bên trong gân làm cản trở mọi cử động, và viêm túi thanh mạc dưới cơ   đenta, có thể lan ra bao hoạt dịch khớp vai làm cho vai cứng, mất cử động.

 

5. Triệu chứng :  

1-           Đau ở mỏm vai lan ra theo cánh tay đến khuỷu tay, cản trở cử động.

2-           Hạn chế cử động.

 

6. Điều trị :

Tập dưỡng sinh, xoa bóp. Uống thuốc Nam Bắc, rượu thuốc.

 

NVH và HUL.

 

Chú thích : (1) Theo quyển “Nauveau traitement du humatisme” của Dr A Sambucy và J.J. Laubry Dangles.