Hen suyễn và khí công. (1)

16-07-2008 13:30

 

 

Gs. Bác sĩ NGÔ GIA HY

 

Hen suyễn là một bệnh của trẻ em cũng như người lớn. Triệu chứng chủ yếu là khó thở từng cơn, nhất là khi thở ra do co thắt cơ nhăn phế quản, thường kết hợp với viêm phù phế quản và thâm nhiễm bạch cầu đa nhân. Cơn hen có thể ngắn hay dài, nặng hay nhẹ, đôi khi liên tục trong vài ngày. Nhịp độ cơn hen là 3, 4 tháng một lần; mỗi tuần một lần hoặc mỗi ngày một lần.

 

BỆNH SINH HỌC

 

I. HEN SUYỄN DƯỚI NHÃN QUAN TÂY Y

 

Nguyên nhân của hen suyễn rất phức tạp. Đứng về phương diện cơ chế bệnh sinh có hai loại hen suyển.

 

-   Hen suyễn miễn dịch-dị ứng.

-   Hen suyễn không do miễn dịch-dị ứng hay hen suyễn đặc ứng mà cơ thể sinh bệnh còn trong giả thuyết.

 

Suyễn dị ứng gây cơn suyễn theo hai phương thức: trực tiếp hay gián tiếp.

Hình 1: Cơ chế thần kinh (1) và cơ chế miễn dịch sinh hen suyễn.

 

1.Phương thức trực tiếp:  Cơ chế thần kinh

 

Qua cung phản xạ, thần kinh X (hệ đối giao cảm) bị kích thích, làm co thắt phế quản.

 

Ảnh hưởng trực tiếp của hệ giao cảm vào phế quản còn đương bàn cải. Hệ giao cảm có hai tính chất trái ngược nhau, tùy theo thụ thể adrenalin lực: thụ thể alpha làm co thắt, còn thụ thể bêta làm giãn cơ nhẵn phế quản. Bình thường có rất ít thụ thể alpha, tỷ lệ thụ thể Bêta và thụ thể alpha là 16/1. Trên một số người bị hen suyễn, thụ thể alpha có thể tăng cao.

 

2.Phương thức gián tiếp: Cơ chế miễn dịch dị ứng

 

Chất dị ứng tác động vào phế quản qua trung gian của chất hóa ứng động mà điển hình là histamin, một chất phản ứng phản vệ chậm (a low reacting substance of anaphylaxis SRSA).

 

Theo phương thức nào thì cuối cùng cũng là co thắt phế quản, phù nề phế quản, và tăng bài tiết chất nhầy tại phế quản làm khó thở, nhất là thở ra.

 

II. HEN SUYỄN DƯỚI NHÃN QUAN CỦA Y HỌC DÂN TỘC CỔ TRUYỀN

 

“Hen là trong cổ họng có tiếng kêu như kéo cưa, như tiếng kêu của ễnh ương” (Lãn Ông).

 

“Suyễn là hơi kéo lên thở gấp quá, không thể điều hòa được” (Tuệ Tĩnh).

 

Hen là theo tiếng thở mà gọi tên, suyễn là theo hơi thở mà định nghĩa. Tóm lại hen suyễn là thở thành tiếng kêu, gấp và khó.

 

1.Cơ chế sinh bệnh

 

Tuệ Tĩnh quan niệm hen suyễn là do phế hư mà ghé hàn, hoặc thực mà ghé nhiệt, hoặc bị thủy khí lấn, hoặc lo sợ khí uất bị đưa lên, hoặc đờm tắc, hoặc âm hư, khí hư, vị hư … và kết luận “Suyễn có nhiều dạng không giống nhau, đừng cho suyễn chỉ là một chứng”.

 

Sào Nguyên Phương quan niệm: “Suyễn là phế quản không thông suốt, đường vào của khí đều khó khăn, nên hơi thở ra và thở vào bị vướng mắc. Phổi phình trướng, dịch đờm ra nhiều, khí chạm vào dịch đờm, nên thở ra hít vào đều có tiếng kêu.

 

Riêng đối với trẻ em thì “Trẻ em bị suyễn đều do nhiệt, nhiệt sinh hỏa, hỏa sinh phong mà đàm là mầm móng của hỏa. Phép chữa nên tráng thủy giáng hỏa, thanh phế, khử đàm làm đường lối chính” (Tuệ Tĩnh).

 

Lãn Ông cho suyễn là do khí không trở về nguồn mà đưa ngược lên, làm thở ra hít vào gấp rút.

 

2.Nguyên nhân của Hen Suyễn

             

Hình 2: Thực suyễn và hư suyễn

 

Hen suyễn gồm có thực suyễn và hư suyễn.

 

Thực suyễn là tại phế (rối loạn chức năng)

 

Hư suyễn là do Thận hay Tỳ vị.

 

a) Thực suyễn: Suyễn do phế

 

Suyễn do phế có nghĩa là suyễn do bệnh tại hệ thống hô hấp, tức mũi họng, xoang, phế quản, phế nang.

 

Một số tác giả Y học Đông phương còn nói tới 6 tà khí tức là phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa hay thất tình là nguyên nhân của thực suyễn.

 

b) Hư suyễn

 

Hen do thận. Sở dĩ thận suy, ảnh hưởng lên phổi vì Thận chủ nạp khí, còn phế chủ phát khí. “Phát khí ra ở phế, nạp khí vào ở thận” Thận còn chứa Tinh khí (Tinh khí Tiên thiên thuộc Mệnh môn) là nguồn của sinh dục và sinh hóa cơ thể. Thận suy làm tinh khí hao, đồng thời Thận không thu nạp khí được nên khi đưa nghịch lên thượng tiêu và sinh ra hen suyễn.

 

Thận hư không bế tàng được khí, do đó Long hỏa bốc lên làm cho phế quản bị tổn thương chỉ có thở ra mà không hít vào.

 

Hen do Tỳ vị là do rối loạn tiêu hóa, khí của Túc Dương Minh Vị đi ngược lên gây khó thở.

 

Hen do thai hư (Lãn Ông) thai nghén gây suyễn qua hai cơ chế:

 

* Tỳ phế vốn yếu, kết hợp với thai hư. Tỳ hư nên chân tay yếu sức, phế hư nên không chịu nổi phong hàn, thận hư nên lưng đau, hơi đoản, không bước đi được, thở dốc, khí của thận đi ngược lên phổi.

 

* Thai chết do thuốc độc hay uống nhầm phải thuốc độc.

 

III. NHỮNG ĐIỄM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA QUAN ĐIỂM TÂY Y VÀ ĐÔNG Y VỀ HEN SUYỄN.

 

1. Điểm tương đồng

 

Về cơ chế sinh bệnh, cả hai nền y học đều đặt trọng tâm vào thương tổn hay rối loạn chức năng của phổi, phế quản, do tiết dịch và đờm quá nhiều.

 

Về nguyên nhân, cả hai nền y học đều ghi nhận có những nguyên nhân ngay tại phổi và những nguyên nhân ngoài phổi như tại Tỳ Vị, hay nguyên nhân do thất tình, do khí hậu, môi trường (tà khí). Đặc biệt trong suyễn do thận, Y học cổ truyền nói tới vai trò của Long Lôi Hỏa của Mệnh môn, chủ Tinh khí Tiên thiên tức do cha mẹ truyền lại. Tây Y cũng nói tới suyễn miễn dịch di truyền.

 

2. Điểm dị biệt

 

Về sinh lý bệnh: Đông y mô tả thở khó cả hai thì, thì thở ra cũng như thì hít vào.

 

Tây Y nhấn mạnh về khó thở trong thì thở ra do co thắt phế quản và từ đó nêu cao vai trò hưng phấn của hệ thần kinh đối giao cảm trong hen suyễn và điều trị hen suyễn bằng thuốc giải đối giao cảm hay làm hưng phấn giao cảm.

 

Về cơp chế bệnh sinh: Tây Y đặt nặng vấn đề miễn dịch và dị ứng trong suyễn phế quản và phân chia suyễn làm hai loại: loại do miễn dịch và loại không do miễn dịch.

 

Từ đó  Y học hiện đại đi sâu vào những biến đổi mô học, hóa học, của tế bào qua các chất hóa ứng động trung gian, nên dùng các thuốc chống sinh histamin, thuốc ức chế các chất trung gian, thuốc chống viêm trong điều trị.

 

(Còn tiếp)