Gs. Bác sĩ NGÔ GIA HY
MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
Kết quả điều trị còn phụ thuộc vào những bệnh kết hợp như tim mạch và nhất là biến chứng viêm phế quản mạn tính hoặc viêm phổi mà phải kết hợp với Y học hiện đại.
Trong các dạng suyễn, suyễn tâm lý khó trị và phải kết hợp với tâm lý liệu pháp, suyễn tim cũng cần phối hợp với Y học hiện đại, suyễn Tỳ đòi hỏi bệnh nhân phải có chế độ ăn uống thích hợp. Để cắt cơn suyễn cấp tính ngoài Khí công phải phối hợp với châm cứu và điểm huyệt.
Kết quả điều trị lâu dài gặp nhiều khó khăn vì phần lớn bệnh nhân không trở lại (50% trong loại này). Đây là tình hình chung cho hầu hết tất cả các cơ sở điều trị hiện thời, nên ở đây chỉ biết ghi nhận kết quả lúc ra viện là chủ yếu.
Dưới đây là kệt quả điều trị của 20 bệnh nhân mà chúng tôi theo dõi được trong số 40 40 bệnh nhân (1985-1990).
Bảng 1
PHÁI
NAM NỮ
09 11
Bảng 2
LỨA TUỔI
20-40 40-60 Trên 60
20 08 02
Bảng 3
THỜI GIAN BỊ SUYỄN (NĂM)
5 năm 10 năm trên 20 năm
04 10 06
Bảng 4
DẠNG SUYỄN
Dị ứng Đặc ứng Dị ứng+Đặc ứng
06 05 08
Bảng 5
THỜI GIAN THEO DÕI
Dưới 1 năm 2 năm 3 năm 4 năm
03 07 05 05
Bảng 6
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TRONG LOẠT NÀY
Khỏi Giảm nhiều Giảm ít
13 05 02
LƯỢNG GIÁ ĐIỀU TRỊ
Tiêu chuẩn
Khỏi: Không còn lên cơn, tinh thần sảng khoái.
Giảm nhiều: Thỉnh thoảng lên cơn nhẹ, cắt cơn được bằng tập luyện, không phải dùng thuốc.
Giảm ít: Còn lên cơn nhưng thưa và phải dùng thuốc phối hợp với tập luyện.
Tại bệnh viện Nhân dân Thượng Hải, trong 107 trường hợp suyễn phải điều trị bằng Khí công có 34% khỏi, 32% đỡ nhiều, 30% đỡ ít và 4% thất bại (Gourui, 1988).
CHIỀU HƯỚNG ĐIỀU TRỊ HEN SUYỄN HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI
Tại Á Đông, Ấn Độ đã áp dụng các pháp môn Yoga để điều trị hen suyễn-phế quản từ 50 năm nay. Rất tiếc là các tác giả không nói tới cơ chế sinh hóa, không nhấn mạnh cũng như nói rõ về cơ chế thần kinh nhất là thần kinh chủ động trong phương pháp điều trị này.
Tại châu Âu có khuynh hướng tập luyện tư thế ngồi thở kết hợp với thuốc để điều trị hen suyễn. Hai nguyên tắc cơ bản được áp dụng là:
1. Thả lỏng các cơ ngực, vai và bụng trong động tác thở và thở bằng cơ hoành.
2. Tập thở chủ động trong cả hai thì, thì thở ra cũng như thì thở vào, trong tư thế bán ngồi để giảm áp lực bụng và giúp cơ hoành dễ di động trong lúc thở vào.
Riêng tại Liên Xô (1987), các tác giả nhấn mạnh hai điều:
1. Tác hại của thiếu CO2 thừa oxygen:
Thiếu CO2 nhiều ngày trong máu gây kết quả là rối loạn chuyển hóa, giảm miễn dịch và dễ mắc bệnh. Tế bào của não, tim, thận và các cơ quan khác cần một nồng độ CO2 là 6,5% trong máu, trong khi đó nồng độ CO2 trong không khí là 0,03% tức thấp hơn 200 lần của nhu cầu sinh lý. Quá nhiều oxygen trong máu làm cho Oxyhemoglobin bám chặt vào hemoglobin và ngăn chặn hồng cầu phóng thích oxygen là 2% trong khi đó nồng độ oxygen trong không khí là 20,94% tức là 10 lần cao hơn. Phôi trong bụng mẹ sống trong cùng một môi trường có nồng độ CO2 cao và nồng độ oxygen thấp, là một chứng minh thực tiễn cho những điều nói trên.
2. Tác hại của thở mạnh và sâu:
Thở mạnh và sâu như lúc tập thể dục để lấy nhiều oxygen là một sai lầm lớn. Phải tập thở để có cảm tưởng thiếu chút ít khí trời và để CO2 trong máu có nồng độ lý tưởng là 6,5%.
Một số tác giả khác trong Y văn Thế giới cũng có cùng những quan điểm này.
Cá nhân chúng tôi đã trình bày nhiều lần cơ chế mượn hơi thở để tăng nồng độ CO2 và giảm nồng độ oxygen trong máu ở mức độ vừa phải trong phương pháp tập khí công. Khí công bảo vệ và tạo sức khỏe một phần chính là vì lẽ đó. Ngoài ra trong những năm vừa qua, kết hợp với nguyên tắc trên với nguyên tắc mượn hơi thở để lập thế quân bình giao cảm và đối giao cảm, chúng tôi đã thành công trong điều trị khá nhiều trường hợp hen suyễn kể cả các trường hợp bệnh đã có hàng chục năm hay hơn nữa và thuốc mất dần kiến hiệu, vì bệnh sinh học hen suyễn nhất là hen suyễn dị ứng và miễn dịch nằm sâu trong chuyển hóa của tế bào, trong biến đổi của phân tử. Thành công thực sự hay không chính là khám phá được tác dụng của Khí công vào các hiện tượng trên.
NGH.