Điều trị trật khớp (Sai khớp) (2)

23-07-2008 09:35

 

Lão Võ sư TỪ THIỆN

 

 

3. ĐIỀU TRỊ TRẬT, CỤP XƯƠNG SỐNG

 

a)      Tình trạng trật khớp:

 

Khi xương sống lưng bị trật thì thân người hơi cong về phía trước đốt sống  lưng có thể bị lồi ra, không ngửa ra được, đau nhức, khó chịu.

 

b)      Cách điều trị:

 

Trước hết, cần sờ ấn chỗ bị thương để xem có trạng thái bị trật cụp như thế nào, nhớ không nên để bệnh nhân đứng nghiêng hoặc nằm nghiêng, mà phải điều trị bằng một trong ba cách sau đây.

            
Hình 6
 

1.      Cho bệnh nhân hai tay nắm hai đầu dây treo hoặc lòn dây dưới nách bệnh nhân treo lên rồi kéo lên cao, chân bệnh nhân đứng thẳng trên ba viên gạch tàu. Người điều trị dùng sức ấn mạnh chỗ đốt sống lưng lồi ra vừa bảo một người khác lấy giúp gạch từ từ một viên, hai viên, rồi ba viên, làm cho thân hình của bệnh nhân lần lần hạ chân sát xuống đất thì chỗ đốt xương ăn khớp vào ngay và không còn lồi lên nữa.

            
Hình 7
 

2.      Để bệnh nhân đứng ngay. Người điều trị đứng sau lưng, tay mặt vòng dưới nách bên mặt bệnh nhân, tay trái ấn chỗ đốt xương bị treo, bảo bệnh nhân ngửa ra. Bấy giờ người điều trị cả hai tay đều dùng lực một lượt tay mặt kéo thân hình bệnh nhân, tay trái ấn mạnh chỗ đốt sống lưng, chuyển mạnh qua một cái thì chỗ đốt hồi phục lại vị trí.

             
hình 8
 

3.      Để bệnh nhân nằm sấp, ngay chân trái, co chân mặt lại, gót chân để trên đầu gối trái. Người trị bệnh ngồi sau lưng bệnh nhân phía bên trái, dùng tay mặt nắm chỗ đầu gối bệnh nhân, tay trái ấn cườm tay chỗ đốt sống lưng bị thương. Đoạn người điều trị cùng một lúc sử dụng cả hai tay: tay mặt đẩy mạnh đầu gối ra ngoài, đồng thời tay trái ấn chuyển đốt xương cho đốt xương sống phục hồi tại vị trí (H.6,7,8)

 

ĐIỀU TRỊ TRẬT KHỚP XƯƠNG ĐÒN GÁNH:

 

a)      Tình trạng trật khớp:

 

Xương đòn gánh đai vai trật khớp có nhiều chứng trạng:

 

-         Xương đòn gánh bị trật phía trước ngực, làm chỗ trật lồi ra phía trước, đầu xương đòn gánh hạ xuống và cụp vào, đầu nạn nhân nghiêng qua một bên, khi nhấc tay lên thì đau đớn khó chịu. Nếu khí quản bị nghẽn, làm khó thở, tiếng khàn hoặc nói không ra tiếng, cánh tay khó đưa lên, nếu bị ép xương sườn ngực làm cho cả khí quản và thực quản đều nghẽn, thở khó, nuốt nước cũng khó khăn, đầu bị nghiêng qua một bên.

 

-         Chỗ đầu xương đòn gánh và xương vai bị trật khớp thì hai đầu xương này hoàn toàn lìa ra, vai hơi trệ xuống, cánh tay không đưa lên được.

 

-         Đầu xương đòn gánh phía ngoài trật tới trước, lồi ra, chỗ khớp cũng có lõm sũng, nách không dở lên được.

 

b)      Cách điều trị:

             
Hình 9
 

1.      Cho bệnh nhân ngồi ngay, người điều trị ngồi phía bên mặt bệnh nhân, dùng tay trái đỡ vai bệnh nhân lên tay mặt ấn bàn tay tại vai, đầu ngón tay cái chỗ xương vai (chỗ hai khớp kiên ngung) hoặc nhờ một người cầm giữ đừng cho lay động khớp xương vai. Người điều trị tay mặt nắm chặt khớp cùi chỏ, dùng sức kéo mạnh ra sau tai đồng thời ngón tay trái ấn mạnh chỗ đầu khớp xương vai. Vận chuyển như vậy đôi ba lần làm cho khớp xương vai phục hồi lại nguyên trạng.

            
Hình 10
 

2.      Cho bệnh nhân đứng thẳng. Người điều trị đứng ngay đối diện, dùng tay mặt nắm tay bệnh nhân vắt ra vai nơi huyệt Kiên tỉnh, tay mặt cùng ấn chỗ khớp xương vai, vận chuyển tới lui hai, ba lần, làm cho khớp phục hồi lại nguyên trạng. (H 9, 10)

 

5.      ĐIỀU TRỊ TRẬT KHỚP XƯƠNG BẢ VAI:

 

a)      Tình trạng trật khớp:

 

Trật khớp vai gặp nhiều hơn là các trường hợp trật khớp khác, vì chức năng và sự chịu đựng của khớp vai rất lớn và rất khác nhau ở những người làm công tác lao động, và cả vì những đặc điểm giải phẫu của khớp vai.

 

Người ta phân biệt mấy loại trật khớp vai chính:

 

-         Trật khớp về phía trước, nghĩa là trật khớp dưới mỏm quạ và dưới đòn: 97% trường hợp trật khớp vai là trật khớp vai này.

 

-         Trật khớp nách.

 

-         Trật khớp phía sau, nghĩa là trật khớp dưới mỏm cùng vai và dưới gai xương vai.

 

Trật khớp về phía trước thường xảy ra khi ngã chống duỗi về phía sau, ngã chống tay sang bên, khi đó chỏm xương cánh tay trật ra khỏi ổ chảo đi về phía trước, làm rách bao khớp, lọt xuống dưới mỏm quạ hoặc lọt vào cùng dưới đòn.

 

Khi chỏm xương cánh tay trật xuống phía dưới, bao khớp sẽ bị rách ở phía hố chảo và chỏm xương cánh tay  sẽ lọt vào hố nách, gây ra loại trật khớp nách.

 

Trật khớp vai về phía sau thường xảy ra khi ngã chống tay duỗi thẳng về phía trước và quay vào phía trong.

 

Triệu chứng khi bị trật khớp vai thường thấy là bệnh nhân đau và không thể cử động được khớp vai, tay hơi dang sang bên, trục của xương tay không hướng về trung tâm của ổ khớp mà hướng về phía trong hơn về phía mỏ của mỏm quạ. Khi sờ nắn chỏm xương cánh tay, thấy có chỗ lõm ở dưới cơ delta. Chỏm xương cánh tay sờ thấy ở dưới mỏ của mỏm quạ hay dưới xương đòn khi trật về phía trước, hoặc sờ thấy ở hố nách khi trật khớp nách (về phía trước), hoặc sờ thấy ở dưới mỏm cùng vai của xương vai hay dưới gai xương vai khi trật khớp về phía sau.

 

Khi bị trật khớp vai, bệnh nhân không thể cử động bên bị trật khớp vai và phải dùng tay kia để đỡ tay bị trật khớp. Trường hợp nếu phải cố di chuyển khớp vai, bệnh nhân sẽ cưỡng lại bằng cách nhún vai xuống như có lò xo. Đây là một đặc điểm để phân biệt trật khớp vai với gãy cổ xương cánh tay (tuy đau, nhưng khớp vai vẫn cử động tự do).

 

Ngoài ra, khi bị trật khớp vai, thường thấy mấu bọng của xương cánh tay bị bong ra và lúc khớp vai hạ xuống bệnh nhân có cảm tưởng tay phía bị trật khớp vai dài hơn tay kia. (H 11, 12, 13, 14, 15, 16)

TT

             
Hình 11

             
Hình 12

              
Hình 13

 

 

 

             
Hình 14
              
Hình 15
               
Hình 16