BÙI THẾ CẦN
Trong chương trình đào tạo huấn luyện viên (HLV) của môn phái Aikido tại Tp. Hồ Chí Minh cũng như tại Bình Dương đã có những nội dung huấn luyện rất xác thực có lợi cho việc chu toàn trách nhiệm của một HLV như: Phương pháp sư phạm đòn thế, các nguyên lý căn bản trong võ học, tinh yếu võ đạo, khung cảnh pháp lý của sinh hoạt võ thuật, lý tưởng tuổi trẻ ngày nay,…
Aiki-Viet xin giới thiệu bài viết dưới đây mà cũng là một phần trong giáo khoa “tâm lý tuổi trẻ” của chương trình đào tạo HLV tại Đạo đường Aikido Đa Kao và Aikido Bình Dương.
Dẫn nhập
Từ 12 đến khoảng 18-20 tuổi, con người trải qua một giai đoạn đầy khó khăn thử thách, với những đổi thay sâu xa trong cơ thể, trong tính tình, tâm lý, suy nghĩ, tình cảm,… Phần đầu của tuổi dậy thì (12-15) chứng kiến một sự xáo trộn khủng khiếp trong cơ thể khiến người thiếu niên cảm thấy không thích ứng với mình và xã hội. Phần cuối (15-20) của tuổi dậy thì là một chuỗi ngày khắc khoải âu lo đối với định hướng tương lai, niềm tin, tình yêu,…
Nói chung, đây là một thời gian khủng hoảng và thách đố kéo dài về mọi mặt, người trẻ chỉ tìm lại được sự bình ổn của chính mình dần dần, khi trở thành người lớn và có một chỗ đứng xứng đáng trong xã hội.
Để được như vậy, người thiếu niên cần có sự hướng dẫn, giúp đỡ trong tình thương và thông cảm – nhưng không ủy mị, yếu đuối, mà cương nghị và chính trực – của người lớn. Ở đây, có sự tham gia quan trọng của nhà giáo dục.
HLV Aikido, với tư cách là một vị thầy, một huynh trưởng, có trách nhiệm tìm hiểu các vấn đề của tuổi dậy thì đầy bão tố, thương yêu, thông cảm với các em, và dẫn dắt các em qua cơn thử thách, trở thành người tốt, trong sáng, hòa hiệp, quả cảm: một tráng sĩ của đất nước Việt Nam anh hùng:
“Phú quý bất năng dâm
“Bần tiện bất năng di
“Uy vũ bất năng khuất” (Mạnh Tử)
PHẦN I: CHÂN DUNG TUỔI DẬY THÌ
1. Cơn khủng hoảng tình cảm
Con trai, con gái vào tuổi 11-12 bắt đầu cảm thấy những thay đổi trong cơ thể, trong sinh lý của mình. Những hiện tượng mới mẻ đó tạo ra những biến động trong đời sống tình cảm, người thiếu niên trải qua những phút thăng trầm, buồn vui bất chợt, sôi nổi. Những đòi hỏi mới mẻ về tâm sinh lý, những khát khao mơ hồ, thái độ rụt rè, tự ti quá mức, hoặc ngược lại, bùng nổ bất chợt nhằm khẳng định cái tôi, một cái tôi mù mờ. Tất cả những mâu thuẫn đó tạo ra một tâm lý bất ổn, bồn chồn, ưu tư,…
Người thiếu niên cần được hướng dẫn để hiểu rõ nguồn gốc của những lúc bi quan đột ngột, lạc quan vô cớ, những lo sợ, mộng ước,… Em cần được ân cần chỉ bảo về sự biến đổi và phát triển của cơ thể để tránh những ngỡ ngàng, những mặc cảm tội lỗi (chẳng hạn về vấn đề kinh nguyệt, xuất tinh, sinh lý). Không ít những thiếu niên nam, nữ vì không được giải thích một cách thích đáng, đã trở thành nạn nhân của những hoang tưởng, mặc cảm tội lỗi, tự ti, đưa đến một tình trạng u uất, ức chế, hoảng loạn và phi xã hội.
2. Xung đột giữa tình cảm và trí tuệ
Đây là một cuộc đối đầu quan trọng, vì cả trí tuệ lẫn tình cảm đều chuyển biến theo những hướng đối nghịch nhau. Một mặt, người trẻ cảm thấy nhu cầu yêu và được yêu. Nhu cầu này cũng tăng lên gấp bội do sự phát triển giới tính. Mặt khác, trí tuệ cũng phát triển mạnh và đòi hỏi mọi việc phải có tính logique.
Ở tuổi này, sự thiện cảm và ác cảm thật khó lý giải. Tuy nhiên cảm tưởng ban đầu phần lớn khá hời hợt. Một nhà giáo dục, một HLV sành tâm lý có thể “biến thù thành bạn” nếu biết tỏ ra kiên nhẫn, tận tụy, thông cảm.
Trong “nhật ký” của mình, Anne Frank, cô gái Do Thái sau này bị đưa vào trại tập trung, đã từng viết:
“Xung khắc giữa con tim và cái đầu – Cho đến nay thì cái đầu có vẻ thắng thế - Nhưng con tim rồi đây có sẽ lấn lướt không? – Đôi khi mình e sợ điều đó và nhiều lúc mình lại thích như vậy.”
Thông thường thì con tim thắng khối óc, nhất là đối với các em gái. Tuy nhiên, cả trai lẫn gái đều thích lý luận, dù chỉ lý luận để phục vụ con tim.
Một nữ sinh 17 tuổi đang đùa với lửa, thầy giáo của cô khuyên nên chấm dứt, vì đã đến lúc có thể cháy tay. Em từ chối: “Em không thể, bạn K cần em. Chỉ có em mới khuyên bảo bạn ấy, giúp học hành đàng hoàng…”
Thực ra, chính cái liên hệ giữa K và em nữ sinh đã gây ra những mâu thuẫn trong gia đình của K, làm cho cậu con trai mơ mộng, bực bội, chán nản…
3. Phát hiện nhân cách của mình
Bi kịch lớn nhất của con người là khi nhận ra mình là một chủ thể. Chủ thể đó vừa độc lập, vừa bị lệ thuộc. Từ đó phát sinh ra những xung đột với cha mẹ, thầy cô, bạn bè.
Ở lứa tuổi thay hình đổi dạng này, người tuổi trẻ như mặc nhiên nghe theo một quy luật nội tại: cô cậu cảm thấy nhu cầu tự khẳng định. Nhưng đồng thời, họ cũng cảm nhận được là mình vẫn còn cần được soi sáng, giúp đỡ. Đây lại là một khung trời bão tố khác. Để khẳng định mình, người thiếu niên phản đối mọi cố gắng khuyên can, chỉ giáo. Anh ta không chịu chấp nhận thực tế là vì ta có thể ao ước tiến lên với đôi chân của chính mình đồng thời, không thể tự đứng một mình được. Tuổi dậy thì không chịu hiểu là giữa “muốn làm” và “có thể làm” là một khoảng cách lớn mà người ta chỉ lấp đầy bằng kiến thức, kinh nghiệm.
Đôi khi cần biết ý kiến của người lớn, thiếu niên thường đưa ra một câu tuyên bố có tính thách thức, ngang ngược, để xem các bậc “bề trên” phán đoán ra sao. Những lần như vậy, người lớn thường bị “sốc”, họ nghĩ là con cháu mình đã bị tiêm nhiễm bởi những tư tưởng xấu, những kẻ vô tình vô nghĩa… Thực ra, qua cách ăn nói ngang tàng, nghịch nhĩ, người trẻ chỉ muốn nghe người lớn lập luận, phản bác để tìm cho mình lời giải đáp khả tín. Nói chung, những lời thách thức sỗ sàng, bộc trực không đáng làm ta lo nghĩ bằng những lời nói dịu ngọt, êm đềm của kẻ thực sự có tâm địa xấu.
4. Đối đầu giữa nhu cầu cộng đồng và ý thích độc đáo
Từ tuổi 15-16 đứa trẻ bắt đầu ý thức về mình và thích thú về những biến đổi trong người mình. Nó lo lắng bảo vệ cái tôi cá biệt như một bảo vật. Nó tìm cách phô diễn nhiều khả năng đặc biệt của mình và tự tách biệt khỏi đám đông. Bằng những hoạt động nghệ thuật (đàn, hát, vẽ, múa,…) hay thể thao, đứa trẻ dậy thì tìm mọi cách để được để ý, đôi khi bằng một thái độ lập dị, cực đoan.
Để bảo vệ cái tôi độc đáo, và để tự khẳng định, đứa trẻ dậy thì đôi khi tỏ ra chống đối, hiếu chiến. Nó cảm thấy cần phải tự vệ và bảo vệ những giá trị tiềm tàng, phong phú mà người lớn không thèm đếm xỉa đến, hoặc tìm cách bóp nát trong trứng nước. Thái độ khoác lác của thiếu niên được bộc lộ đối với các cuộc “sum họp gia đình”, những chuyến đi chơi hoặc giải trí trong gia đình. Các khuôn phép, kỷ luật, đều bị xem là những ràng buộc làm thương tổn đến nhân cách. Ngay cả những truyền thống mà trước đây vẫn được chấp nhận, cũng bị xem là những đe dọa đối với cá tính độc đáo của tuổi biến dạng. Thế nhưng, lại thêm một mâu thuẫn trong tính cách của trẻ tuổi dậy thì: anh ta vẫn sẵn sàng chấp nhận những ràng buộc “truyền thống” của một nhóm, một băng do mình tự chọn.
Tham gia vào một băng nhóm theo ý mình là tự tạo ra một xã hội theo ý mình muốn và cũng là một cách để phản đối lại các loại ràng buộc của xã hội do người lớn áp đặt. Sinh hoạt trong một bắng nhóm như vậy, người trẻ cảm thấy được kết nối với nhau như trong một hội kín, trong đó anh ta được giao những đặc vụ tương tự như đối với những người trưởng thành. Như vậy anh ta có cảm tưởng như mình đã trưởng thành và có thể phô diễn những khả năng tiềm ẩn của mình, những khả năng mà người lớn không trân trọng ghi nhận. Đây có lẽ là điểm mấu chốt của tuổi trẻ hiện nay.
Sức thu hút kỳ lạ của các nhóm trẻ có thể là chìa khóa cho phép giải mã các bài toán nát óc của cái tuổi “vô kiềm tỏa” này. Điều này làm nổi bật vai trò thiết yếu của các hội đoàn thanh thiếu niên. Đối với tuổi đang lớn, băng nhóm (các đoàn thể thiếu niên) là nơi giải tỏa mọi ức chế, nơi thể hiện mọi khát vọng của tuổi trẻ. Nói cách khác, chúng vừa tạo môi trường để tìm hiểu tâm lý trẻ vừa là một phương pháp giáo dục ưu việt.
Nhà giáo dục phải lưu tâm đặc biệt đến các sinh hoạt của nhóm trẻ vì chúng giúp phát hiện ra tất cả mọi tính tình, khuynh hướng, tư cách của thiếu niên, và nhất là những khát khao lý tưởng, những dã tâm ác ý, nhu cầu tương thân tương ái, những thao thức băn khoăn. Từ sự hiểu biết về người trẻ này, chúng ta có thể phác họa một chương trình giáo dục cho từng đối tượng, tìm phương pháp chữa trị cho những trường hợp tổn thương tâm lý, dã tâm, ác ý, u trầm, ức chế mặc cảm,
5. Tuổi vô tư?
Có một điểm cần lưu tâm trong tâm lý tuổi dậy thì: nỗi khắc khoải. Nhiều người lầm tưởng rằng tuổi thiếu niên là cuộc sống vô tư, thanh thản, chỉ biết chơi, học, ăn, ngủ. Thì cũng có những giây phút vô tư đấy, nhưng có những lúc, người tuổi trẻ cảm thấy một nỗi khắc khoải về chính bản thân mình đang có nhiều xáo trộn, mâu thuẫn về tương lai (mù mờ, đầy hứa hẹn mà cũng nhiều đe dọa, thách đố) về xã hội (ý thức xã hội phát triển đặt ra những vấn đề không có lời giải đáp).
Tuổi thiếu niên phân vân giữa tiếng gọi của đại nghĩa và óc thực tế. Hai khuynh hướng lý tưởng và thực dụng đối chọi nhau trong mỗi hành động, làm bạn trẻ của chúng ta hoang mang ray rứt. Anh ta (hay chị ta) sẵn sàng dấn thân theo một lý tưởng cao đẹp, hy sinh tất cả cho nó, nhưng lại sợ bị lừa dối, lầm lạc, trở thành trò cười cho kẻ khác. Vì chưa tin vào sự phán đoán của chính mình (mà cũng chưa thực sự đủ khả năng để phán đoán một cách đúng đắn) nên anh ta vừa háo hức, vừa dùng dằng, không quyết. Và thế là anh ta đâm bổ vào các cuộc phiêu lưu đôi khi đầy nguy hiểm, điên cuồng: chỉ để chứng tỏ mình dám làm, có chí lớn. Người lớn không nên quá bận tâm hay cảm thấy xúc phạm về những “trò khùng” của tuổi trẻ: chúng biểu lộ niềm khát vọng muốn vượt chính bản thân mình, muốn quên mình, thử lửa, muốn vươn lên cao, đạt đến một lý tưởng.
Những sự khùng điên của tuổi dậy thì, cũng như những si mê thần tượng, những cuộc đua xe bạt mạng, những chuyến đi liều lĩnh, những “trái chứng” của nó cũng có thể được xem như một phản ứng đột phát trước sự thực phũ phàng của người lớn, trong một xã hội ty tiện và đầy thỏa hiệp. Trước những buồn chán, ích kỷ của xã hội trưởng thành, người trẻ vừa hoang mang vừa nản lòng. Nó không dễ gì bỏ lại sau lưng những chương trình hành động đầy phấn khích: người ta không thể không nuối tiếc giấc mơ cao đẹp:
“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
"Lấy chí nhân để thay cường bạo” (Nguyễn Trãi, Bình Ngô Đại Cáo)
6. Nỗi khát khao công lý
Ta không thể hiểu hết tuổi trẻ nếu không thấy được nỗi đam mê khát khao công lý của nó. Kinh nghiệm chứng tỏ, người tuổi trẻ đau khổ, phẫn nộ, chán nản và đôi khi đến chống đối phản loạn khi bị đối xử bất công, oan ức. Chứng kiến những bất công oan ức đó nơi người khác cũng làm cho họ bùng nổ. Mà sự vi phạm công bằng xã hội thường đến từ người lớn, cha mẹ, thầy cô, các người có quyền thế. Thái độ chống đối của tuổi trẻ đối với người trên thường từ đó mà ra.
Nhiều người vẫn thường lên án thái độ phẫn nộ của tuổi trẻ như là đầu óc bất trị, vô kỷ luật, phi xã hội,… Họ quên rằng, trong mắt người trẻ tuổi, những lời nói lấp liếm, phủ đầu, những quyết định có tính thiên vị, những thưởng phạt thiếu quang minh chính đại là những điều không thể chấp nhận, vì đi ngược lại lương tâm và công bằng xã hội.
Trong lúc đó, người thiếu niên cũng cảm thấy có một sự giằng co giữa ý thức công bằng xã hội và sự tôn sùng cá nhân. Là vì, ở tuổi 15-20, người ta thường tự coi mình là cái rốn của vũ trụ. Tất cả những gì không liên hệ đến việc phát triển nhân cách của bản thân (được yêu, được tôn trọng, được khâm phục, chiều chuộng,…) đều bị coi là vô tích sự và không đáng phải đếm xỉa. Thế nhưng họ lại đòi hỏi phải có công lý cho mọi người, có một lý tưởng và muốn làm những nghĩa cử. Đứng về khía cạnh phân tâm học, thì đây cũng là một hình thức phát triển nhân cách: thái độ anh hùng, tư cách đàn anh, kẻ cả, ước muốn thầm kín được khâm phục,… là khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa được thăng hoa (sublimer) vậy. Người trẻ tuổi, vì không hiểu được nguyên thủy sâu xa của các đòi hỏi cá nhân, xã hội… cảm thấy ray rứt, dằn vặt mỗi khi nghĩ đến cái “tôi” và “chúng ta”.
PHẦN II: TUỔI DẬY THÌ CHỜ ĐỢI GÌ Ở HLV AIKIDO?
1. HLV hãy nhớ mình đã từng là một đứa trẻ dậy thì
Âm vang của tuổi dậy thì vẫn còn trong ta. Hãy nhớ lại những ngay ngắt, xung đột của tuổi dậy thì để dễ thông cảm và thương yêu các em mà mình có trách nhiệm hướng dẫn, chăm sóc.
2. Hãy lưu tâm đến những gì các em lưu tâm
Như vậy, chúng ta sẽ gần gũi với các em hơn và có thể giúp các em trong việc hình thành một nhân sinh quan đúng đắn.
Chia sẻ những sở thích của tuổi trẻ (thích đọc Teppi, Nguyễn Nhật Ánh,…) và nhận ra điều đó cũng là một cách để phá vỡ những bức tường ngăn cách giữa ta và thiếu niên. Khoảng cách giữa HLV và trẻ ngày càng thu nhỏ, hy vọng thành công càng lớn.
3. Đừng khinh miệt những hăng say của tuổi trẻ
Thái độ khích bác, miệt thị đối với các thần tượng nhất thời như minh tinh điện ảnh, cầu thủ (Eric the King)… làm cho tuổi trẻ xa rời người lớn. Trong khi chính em đang muốn được HLV đồng ý, công nhận.
4. Đừng đòi hỏi quá mức ở các em
HLV, cha mẹ, anh chị thường hay chuyển những giấc mơ không thành của mình qua các em và bắt chúng thực hiện những gì mà mình không làm được trong cuộc đời. Cũng đừng đặt quá nhiều kỳ vọng nơi các em. Mỗi người đều có con đường của mình và họ được trang bị cho cuộc hành trình đó. Nhà giáo dục không nên áp đặt những đòi hỏi chủ quan trên thân phận của những người khác.
5. Hãy vừa là huynh trưởng vừa là người bạn
Trích “Nhật ký Anne Franck”: “Mẹ bảo mẹ xem các chị em mình là những người bạn hơn là những đứa con gái. Nói nghe thì dễ thương, nhưng một người bạn không thể thay thế cho một người mẹ. Mình cần cảm thấy niềm tôn kính đối với mẹ, như đối với một lý tưởng”.
Một người trưởng thành phải có nghị lực sáng suốt, cương quyết và công bằng. Và là người bạn biết lắng nghe, thông cảm.
6. Đừng đẩy dồn trách nhiệm của ta lên vai tuổi thiếu niên
Có nhiều em tỏ ra có đầu óc lãnh đạo rất sớm, có thể nhận một trách nhiệm đôi khi vượt lên cấp tuổi của mình. Thế nhưng đại đa số vẫn còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm, không dám quyết đoán vì chưa đủ tự tin. Dồn trách nhiệm quá mức cho các em trong trường hợp này là tạo thêm khủng hoảng, căng thẳng, đưa đến những quyết định sai lầm (trường hợp cha mẹ giao em cho con lớn, huynh trưởng giao đoàn viên viên nhỏ cho các em lớn,…)
7. Người lớn phải đóng vai trò người lớn
Nhiều bậc ông bà, cha mẹ, thầy cô, huynh trưởng chối bỏ trách nhiệm làm người lớn của mình, hoặc quá nuông chiều, dễ dãi, đôi khi đồng lõa, bao che. Có người sợ hãi trước những cơn bùng nổ của tuổi trẻ vì thiếu can đảm, bản lĩnh.
Người thiếu niên vừa thích thú về sự thoái vị của người lớn (em lợi dụng điều đó cho thỏa mãn cá nhân) đồng thời lại lên án thái độ hèn nhát này. Khi hư đốn, vấp phạm, nghiện ngập, tù tội, họ trở lại oán trách người có trách nhiệm giáo dục mình.
KẾT LUẬN
Khuôn mặt của tuổi dậy thì ngày nay giống như một bức chân dung Picasso: Tai một đường, miệng một nẻo, mắt ngang cằm, môi méo xệch. Như thế là vì thiếu niên bị phanh thây giữa tình yêu chiếm đoạt (amour captatif) (tìm thỏa mãn cho bản thân) và tình yêu dâng hiến (amour obtatif) (quên mình cho tha nhân).
Cuộc đọ sức này sẽ còn mãi trong con người, nhưng vào tuổi dậy thì, nó đạt đến mức gay gắt nhất, khốc liệt nhất. Giữa tình yêu lý tưởng (amour platonique), trong sáng tuyệt vời và những đòi hỏi của thân xác – bị xem là thấp hèn, xấu xa – cuộc vật lộn cũng không kém phần ngoạn mục. Khát vọng bay cao theo lý tưởng, theo tiếng gọi của phiêu lưu, của những hy sinh cao cả (Mẹ Theresa, nhà thám hiểm Consteau,…) chạm trán nảy lửa với đầu óc thực tế, các nhân chủ nghĩa, khuynh hướng hưởng thụ, sự lôi kéo của bạn bè (xì ke ma túy thường xảy ra trong các băng, nhóm).
Đó là chân dung phác họa của tuổi dậy thì (khoảng từ 12, 14 – 18, 20 tùy từng cá nhân), tuổi của những mâu thuẫn, đấu tranh đằn vặt, tuổi khó sống nhất của con người. Những xung khắc đó tạo ra vô số vấn đề, nhất là trong các lãnh vực gia đình, tình cảm, trí tuệ và tâm linh.
Là HLV Aikido, chúng ta phải nắm vững các yếu tố nêu trên để có thể giúp các em thiếu niên vượt qua những khúc quanh ngặt nghèo để đi vào tuổi trưởng thành và trở nên người tốt trong xã hội: tự tin, không mặc cảm, cởi mở, yêu đời, bản lãnh, độ lượng và có lý tưởng.
Gia đình, gia tộc, dân tộc, nhân loại, vũ trụ là một chuỗi liên tục, phát triển không ngừng. Sự phát triển bắt đầu từ mỗi cá nhân. Hướng phát triển đi lên, đúng đường, hay đi xuống, lệch lạc là do từng cá nhân. Mỗi mắt xích đều có tầm quan trọng, có tính quyết định.
HLV Aikido đóng góp phần mình vào việc giáo dục con em là một trách nhiệm lớn và một niềm tự hào vô cùng chính đáng. Trong khi huấn luyện các em, HLV cũng tự cải tạo bản thân mình: Dạy là được dạy. Khi HLV đóng đúng vai trò của mình là anh thực hiện lý tưởng của đời mình. Anh vừa nâng cao tuổi trẻ ngang tầm con người và vũ trụ (*) và đồng thời anh cũng tự nâng cao chính mình: Sống là sống với mọi người (“Être, c’est être avec”).
BTC
(*) “Con người vũ trụ”: Xin đọc Ueshiba Morihei: “Tôi là vũ trụ…”