Thầy tôi

08-11-2007 11:35
Tôi có may mắn là việc học Aikido của tôi từ khi chưa bắt đầu đến giờ là nhờ sự ưu ái, chỉ dạy trực tiếp của rất nhiều các thầy và các bậc đàn anh đi trước, xin trân trọng cám ơn chân tình của các quý thầy, quý anh. Từ hồi lang thang khắp nơi trong nước có nhiều cơ hội gặp gỡ với các thầy, tôi thực sự cảm thấy sự đam mê, nhiệt huyết, sự đóng góp lớn lao, kiên trì và thầm lặng của các thầy trong việc truyền dạy và phát triển. Hiệp Khí Đạo cho các thế hệ thanh niên Việt nam trong suốt cả nửa thế kỉ. Tôi ước có một ngày nếu có đủ thời gian và điều kiện tôi sẽ viết một tập sách dày về các vị thầy Hiệp Khí Đạo Việt Nam.

 

Võ Đình Thanh

 

Một phần để ghi lại các khó khăn, các đóng góp, các kinh nghiệm cho các thế hệ mai sau học tập. Một phần quan trọng là để ghi lại những khoảnh khắc, mẩu chuyện mang đậm tình người của các thầy, và để vinh danh các thầy cho những nỗ lực, cống hiến thầm lặng đầy ý nghĩa đối với sự phát triển của thanh niên Việt Nam, mà tôi là một học trò được may mắn hưởng thụ.

 

Nhân ngày nhà giáo Việt Nam, 20-11, cũng nhân hội ngộ 3 miền lần thứ tư, nhớ ơn truyền thụ của thầy trong quá trình học đạo Hiệp Khí, tôi nghĩ mình học các thầy đã lâu, nhưng chưa bao giờ viết về các thầy để các lớp đàn em, các bạn đồng môn, các bậc lão thành trong Aikido Việt Nam biết về những kỉ niệm, đóng góp thầm lặng, nhưng đầy ý nghĩa cho Aikido Việt.  Tuy nhiên do thời gian và điều kiện cho phép, tôi chỉ xin viết về 3 người thầy đã trực tiếp dạy dỗ tôi, có nhiều kỉ niệm sâu sắc với tôi trong quá trình truyền dạy Hiệp Khí đạo cho tôi và các hoạt động mang tính tập thể khác trong Hiệp Khí Đạo Việt Nam.  

 

Với tôi, học tập Hiệp Khí Đạo từ các thầy, không chỉ là kỹ thuật võ thuật mà là tinh thần hiệp khí, phong cách sống hiệp khí. Cách giảng dạy của các thầy, khi thì trên thảm tập, lúc mạn đàm bên bình trà nhạt, cách dạy không chỉ là “dạy đòn”, đưa “thử thách” mà còn là “giao việc”, là “tin cậy”, là “ủng hộ” để rồi dẫn “đạo vào đời”. Ba người thầy đó là thầy Lê Viết Đắc, thầy Hoàng Ngọc Hùng và thầy Bùi Thế Cần. Rất mong các quý thầy, các quý anh, các bạn đồng liêu, các em học sinh kế tiếp con đường làm thầy Hiệp Khí Đạo mà tôi chưa có điều kiện để viết trong loạt bài viết này thứ lỗi.

 

 

Phần một: Thầy Lê Viết Đắc.

Vì môn phái, vì lợi ích cho đời, lặng lẽ tìm người, lặng lẽ truyền đạo học.

 

Thầy trò gặp nhau:

 

Hồi 87, 88 tôi được một võ sư giới thiệu lần đầu tiên về AIKIDO và cho tôi hai cuốn sách là cuốn tự luyện AIKIDO của O. Ratti, và cuốn Hiệp Khí Đạo trong đời sống hàng ngày của K.Tohei. Tôi hay trò chuyện với anh về võ học và các môn phái. Vị Võ sư này vốn rất am hiểu về nhiều môn phái, giới thiệu sơ với tôi về môn này, rồi nói “Em có thể rất thích hợp với môn này, có điều rất tiếc tôi không biết có ai dạy không!” Tôi đọc cuốn tự luyện này nhiều lần, cũng là chú nhóc hiếu kỳ, mê võ, tôi đọc đến gần như thuộc lòng các tên thế, kỹ thuật. Sau mấy năm dùng kiến thức võ thuật của mình, mày mò, thử các kỹ thuật, tôi chẳng vẫn hiểu gì về kỹ thuật Hiệp Khí Đạo, nhưng vẫn cảm thấy môn này có điều gì đó hợp với mình, hợp với thời đại, có cái gì đó cao quý, lịch lãm và bí ẩn. Dầu có bỏ công mày mò tự luyện, sau 3 năm tôi vẫn không thể khai triển được các kỹ thuật Aikdo, nhưng trong đầu tôi tâm niệm một điều, nếu có ai dạy Hiệp Khí Đạo, tôi sẽ lập tức xin học ngay.

 

Một ngày giữa tháng 5 năm 1991, một người bạn thân đang cùng tập võ với tôi bảo” Thanh, mi có biết gì về Hiệp Khí Đạo không, tau có nghe nói có người dạy bên Nhà Văn hóa Thanh Niên, tau nghe nhưng không biết nó là cái gì.” Tôi lập tức kéo luôn cả mấy người bạn đang tập với mình qua xin đầu quân. Khi tôi đến xin gặp học, lớp học đã tập được 1 ngày. Người hướng dẫn là thầy Lê Viết Đắc. Lớp học có khoảng dưới 10 người, trong đó có 5 người là con của thầy và anh Nguyễn Đắc Trí, một số con cái hàng xóm của thầy. Chúng tôi kéo thêm khoảng mấy người nữa tăng lập tức “gấp đôi” dân số.

 

Khi chúng tôi đến tập luyện, sau khoảng một tháng tôi biết rằng, thầy Đắc chuẩn bị xuất cảnh định cư sang Hoa Kỳ, thầy Đắc muốn tìm người để truyền bá tinh thần và kỹ thuật Hiệp Khí Đạo cho thanh niên Huế. Thầy nghĩ, đây là môn võ hợp thời đại, cao quý và cần thiết cho giáo dục thanh niên đặc biệt trong thời kỳ có nhiều biến đổi, xáo trộn trong xã hội như hồi cuối thập kỷ 80 đầu 90. Cũng là người từng trải trong giới quân sự, tập nhiều môn võ khác nhau, về kỹ thuật Thầy cho rằng, kỹ thuật Aikido có nhiều điều bí ẩn, siêu quần trong việc lấy hình võ dạy đạo làm người. Dầu đã biết là khó về nhiều mặt, và còn ít thời gian, khi đó thầy đã làm xong thủ tục xuất cảnh, chỉ còn khoảng trên dưới 3 năm lưu lại Huế, thầy vẫn tìm cách để truyền bá môn phái võ thuật độc đáo này mà theo thầy cũng là cái điều mà thầy may mắn được học từ thầy Đặng Thông Phong.

 

Biết khó không nề hà, tìm cách vượt qua thử thách, truyền tinh thần Hiệp Khí:

 

Hồi trước 90, việc mở một võ đường không phải là dễ, nhất là với người có hoàn cảnh như thầy Đắc, biết tâm tư của thầy, một người em bà con của thầy lúc đó là lãnh đạo của phong trào thanh niên thành phố đã khuyến khích, tạo điều kiện để đem Hiệp Khí Đạo ra mở dạy ở Nhà Văn Hóa Thanh Niên thành phố. Thầy trò gặp nhau, tinh thần luyện tập răng hăng say, tuy nhiên cả thầy lẫn trò ai cũng biết, khó khăn vạn bề đang chờ phía trước.

 

Chúng tôi được thầy hướng dẫn tận tình, ngoài giờ tập thầy cũng trao đổi thẳng những băn khoăn của thầy về lớp võ khi thầy xuất cảnh. Có mấy điểm khó khăn hồi đó nổi lên: một là, thời gian tập trực tiếp với thầy chỉ có khoảng 2 năm. Mà theo thầy việc học hiệp khí đạo, tập theo lối thường và thời gian thường tuần 3 buổi thì 3 năm chỉ mới đủ cảm nhận kỹ thuật, chút ít về tinh thần. Hơn nữa, nếu thầy xuất cảnh, 3 năm chỉ e các môn sinh chưa đủ chín về kỹ thuật và tư cách để tiếp tục duy trì môn phái, nhất là trong hoàn cảnh xứ Huế vốn có truyền thống lâu đời về võ thuật và rất “khó tính” về lễ nghi văn hóa. Với người Huế, cứ phải “tam thập” thì mới “nhi lập”, chuyện dạy võ là chuyện không chỉ đơn thuần là kỹ thuật mà còn là đạo đức, tư cách. 

 

Cái khó thứ hai là việc tìm kiếm người truyền thụ kỹ thuật Hiệp Khí Đạo cho các học trò khi thầy đi xa.  Hồi đó chỉ mới phát triển trở lại ở thành phố Hồ Chí Minh, ở miền trung hầu như không có. Thầy có biết võ sư Nguyễn Ngọc Thanh có dạy Aikido ở Huế hồi đầu những năm 70, nhưng thầy Thanh đã di cư vào Đà Nẵng. Việc xuất cảnh của thầy có nguy cơ sẽ tiệt đường học của các đệ tử non nớt. Điểm cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là sân tập. Hiệp Khí Đạo, như anh em tôi thường gọi là võ nhà giàu, kiếm cái chỗ tập cũng khó, phải có thảm tập, nếu không sẽ rất khó, rồi thì kiếm, gậy, dụng cụ tập kiếm gậy. Trước mắt phải có cái thảm tập. Cứ nhìn thời điểm năm 1990, tiền đâu? Hồi đó, chúng tôi may mắn được thầy Vĩnh Thọ của Judo cho tập ké, tuần 3 buổi chiều trong một phòng tập 24 mét vuông. Võ sinh ngày một đông, thời gian tập tăng, sân tập là thứ phải có.

 

Đạo Hiệp Khí, không chỉ là kỹ thuật mà là nghệ thuật làm người, vận dụng Hiệp Khí cho Hiệp Khí.

 

Thầy Đắc một mặt bàn với chúng tôi về tất cả các khó khăn, một mặt vận dụng tất cả các khả năng để giải quyết các khó khăn lớn. Không đủ thời gian trau dồi kỹ thuật, thầy trò đồng ý với nhau, tăng gấp 4 lần thời gian tập. Mỗi ngày 2 buổi, sáng từ 5 giờ đến 6 rưỡi 7 giờ, ai bận làm học cứ về trước, chiều từ 5 giờ đến 7. Mỗi tuần 7 ngày, cứ vậy ròng rã hơn 3 năm. Dầu bận trăm công ngàn việc làm ăn, và chuẩn bị cho việc xuất cảnh, thầy luôn tìm cách để dành thời gian cho chúng tôi có thời gian để tập với thầy.

 

Trong thời gian đó, thầy tìm mọi cách liên lạc với các võ sư khác trong nước để tìm cách “gửi” lại học trò của mình. Sau một thời gian tìm kiếm, thầy đã gặp trực tiếp thầy Nguyễn Ngọc Thanh và Hoàng Ngọc Hùng ở Đà Nẵng. Thầy Thanh, thầy Hùng cũng là người Huế, tâm huyết với Hiệp Khí Đạo, lại là những cao thủ có tên tuổi trong vùng rất quý tinh thần của thầy Đắc và hiểu ngay ra vấn đề khó khăn của Hiệp Khí Đạo Huế. Kỹ thuật là chuyện chất, đai đẳng là chuyện hình thức đối ứng với xã hội. Để có thể duy trì được môn phái và truyền bá trong xã hội, cả hai khía cạnh đều phải cân bằng. Đặc biệt với thầy Đắc, dầu là gấp rút thời gian, nhưng việc phong đai đẳng với thầy là chuyện quan trọng, có lẽ nó là kết quả của chút văn hóa Huế, là tính cách của Thầy. Việc phong đai đen có nghĩa là công nhận tư cách của môn sinh về kỹ thuật và một chuẩn mực đạo đức để có thể đại diện môn phái để truyền bá môn phái Hiệp Khí Đạo. Theo thầy, việc phong cấp này cần phải bảo đảm tính khách quan và có sự công nhận của xã hội. Theo đó, thi huyền đai nhất thiết phải có võ sư từ võ đường khác đến chấm, có đại diện của chính quyền sở tại và của công chúng, gia đình học sinh. Sau khi thầy xuất cảnh, học trò của thầy sẽ đứng đó tiếp nối, họ sẽ phải xứng đáng được xã hội chấp nhận. Yêu cầu, tinh thần và thủ tục trình tự này là công thức được chúng tôi duy trì nghiêm ngặt cho đến hiện tại.

 

Thầy Thanh, thầy Hùng hiểu ý thầy Đắc, các thầy “phá chấp” rào cản về hệ phái, thế là Aikido Huế có cơ hội để học kỹ thuật của Aikido Yosheikan, Aikibudo. Cũng nhờ vậy chúng tôi có cơ hội hiểu khá sâu về lịch sử, sự khác biệt của kỹ thuật Aikido trong từng giai đoạn lịch sử và với các môn khác. Trước sự “phá chấp” của thầy Đắc về việc xin cho học trò mình thụ giáo các thầy ở Đà Nẵng, khác hệ phái. Các thầy Aikibudo Đà Nẵng cũng “phá chấp” nhận đỡ đầu và truyền dạy cho Aikido Huế.  Đây là bài học thực tế cho tôi để hiểu được sâu sắc hơn về đạo Hòa Hiệp. Để thực sự có được con đường hòa hiệp ta cần phải biết “phá chấp”, nhìn thấy cái tương lai, gạt qua một bên các rào cản không cần thiết do chính con người tạo ra. Về sau khi nghiên cứu nhiều các bút tích của tổ sư Uyeshiba tiếp xúc nhiều với các thầy khác, tôi càng thấm hơn về cái Hòa, cái Hiệp cái Đạo lớn để làm người lớn.

 

Việc đào tạo huấn luyện viên có đẳng cấp cần phải được đào tạo, mài giũa về lý luận và kỹ năng sống. Để phát triển cả về lý luận, hiểu biết và áp dụng các lý thuyết của Hiệp Khí Đạo vào đời sống, cũng như khả năng giảng dạy, truyền bá, các đai đen phải viết một bản luận văn khoảng từ 40 đến 50 trang. Sau hơn hai năm ròng rã luyện tập ngày đêm, một hội đồng thi huyền đai Aikido-Aikibudo được thành lập. Chúng tôi đã vượt qua cả 2 kỳ thi kỹ thuật và lý luận, 10 đai đen nhất đẳng đã được công nhận. Tạo nền tảng cho sự duy trì và phát triển của Aikido Huế về sau. Đến tháng 2 năm 1995, khi thầy Đắc xuất cảnh, những người đứng đầu của Aikido Huế chỉ là các sinh viên đại học năm cuối, các bạn trẻ chỉ mới 23, 24 tuổi đời, công việc chưa có, kỹ thuật thì mới được liệt vào hạng “thượng sỹ già”. Aikido Huế được các thầy Thanh, thầy Hùng ở Đã Nẵng đỡ đầu về tinh thần và tiếp tục truyền dạy về kỹ thuật, nên cũng “hơi an tâm”, tiếp tục con đường của thầy Đắc để lại.

 

Trong thời gian đó, thầy Đắc cũng liên lạc tích cực với các thầy Aikido Tenshikai ở thành phố Hồ Chí Minh, thầy đã gửi gắm các học trò mình cho thầy Bùi Thế Cần, Nguyễn Tăng Vinh, Trương Văn Lương và các thầy khác. Sợi dây tinh thần ít ra cũng được xác lập, cho dù hồi đó thầy chỉ đủ tiền để đưa một chú học trò là anh Nguyễn Đắc Trí đi gặp các thầy ở thành phố Hồ Chí Minh nhân lần về giảng dạy của thầy Đặng Thông Phong năm 1990. Sự gởi gắm này là cơ hội để tiếp cận và học tập với thầy Bùi Thế Cần và các võ sư khác về sau.

 

Để chuẩn bị cho sự hoạt động của Hiệp Khí Đạo Huế non trẻ ở lại, thầy Đắc nhất trí với ý kiến của các môn sinh trụ cột là hình thành một cơ chế quản lý thông qua 2 hình thức. Lập hội đồng huyền đai, bao gồm các huyền đai còn ở lại Huế. Để tranh thủ sự giúp đỡ và ghi nhận vai trò của các môn sinh có uy tín, nhưng lớn tuổi không thể vượt qua về kỹ thuật, hội đồng huyền đai có thể cấp huyền đai danh dự cho các vị này, lúc đó họ có thể tham gia chính thức trong hội đồng để giúp Hiệp Khí Đạo Huế phát triển. Hình thức hội đồng huyền đai cũng giúp các thành viên tránh tập trung trách nhiệm và quyền lực vào một người, đồng thời phát huy trách nhiệm của cả nhóm. Hình thức này tạo cơ chế hoạt động khá mềm dẻo và có hiệu quả trong việc tập trung nhóm môn sinh nòng cốt, đồng thời tạo uy tín và danh chính, trách nhiệm cho các môn sinh. Đồng thời với việc thành lập hội đồng huyền đai, thầy Đắc chính thức giao triện (dấu) của bộ môn và giao toàn quyền cho hội đồng. Thầy nói:

 “Sự tồn tại, phát triển của Hiệp Khí Đạo Huế hoàn toàn phụ thuộc vào hội đồng huyền đai, các anh em trao đổi quyết định. Thầy tin mọi quyết định của các em là đã được suy nghĩ chính chắn, có lợi nhất cho Hiệp Khí Đạo. Từ nay thầy sẽ không can thiệp.”

 

Việc giao quyền này làm cho những môn sinh ở lại thấy vai trò của mình là quan trọng, thách thức là lớn lao hơn. Họ cảm thấy mình trưởng thành hơn một bậc. Sau này trừ những việc nhỏ nhặt thường ngày, phần lớn các việc hệ trọng, chúng tôi đều có trao đổi với thầy. Có những hoạt động lớn, quan trọng chúng tôi đều tìm cách báo cho thầy. Hầu hết các việc lớn chúng tôi đều có mời thầy Lê Viết Minh là bào đệ cũng là một võ sư đến dự để gián tiếp báo với thầy thông qua sự chứng kiến của thầy Minh.

 

Việc cuối cùng là cái thảm tập. Trong thời gian 2 năm đầu, một trong những việc quan trọng là phải “kiếm” cho được cái thảm tập. Thầy đã phải huy động mọi nguồn lực, tiền túi, dồn học phí để cuối cùng với sự góp sức của Hội Việt Kiều yêu Huế và các bậc phụ huynh chúng tôi mua được một bộ thảm tập, gồm khoảng hơn 30 tấm thảm chiếu và một tấm bạt dày, loại che đường băng quân dụng làm thảm tập. Bộ thảm tập này được sử dụng cho đến khi bị lụt 1999 cuốn trôi.

 

Suy ngẫm:

 

Mỗi khi nhìn lại các nỗ lực mà thầy tôi đã lặng lẽ làm trong thời gian ở Huế để tìm kiếm học trò, truyền đạt kỹ thuật, đạo lý của Hiệp Khí Đạo cho thanh niên Huế tôi càng phục thầy tôi. Dù biết là khó khăn thầy vẫn tìm cách và đã vượt qua các thách thức, truyền bá tinh thần luôn vượt qua các khó khăn thách thức trong phong cách hòa hiệp, phát triển tinh thần biết hợp tác, đoàn kết vì cái chung, cái tốt cho xã hội cho thanh niên trẻ. Tôi cảm thấy rất hãnh diện vì mình có vinh hạnh được là học trò của một vị thầy, đơn giản lặng lẽ làm việc tốt cho đời. Thiết nghĩ cũng là một tấm gương sáng của một hành giả Hiệp Khí Đạo Việt Nam. Hiện tại thầy Lê Viết Đắc đang tiếp tục truyền dạy cho một nhóm môn sinh, chủ yếu là các anh em người Việt tại San Jose, California. 

 

Ngẫm nghĩ lại, với thời gian học hỏi ngắn nhưng không ít với thầy Lê Viết Đắc, tôi được học và trực tiếp đào luyện về nhiều phương diện: 1) về kỹ thuật đặc dị, độc đáo Hiệp Khí Đạo; 2) về khả năng tổ chức và cái nhìn tổng hợp về vai trò của tổ chức (làm sao để một nhóm bạn trẻ, “yếu” về nhiều mặt có thể trở thành một tổ chức có tính mềm dẻo, có sức chị đựng cao, và luôn vượt qua các khó khăn). 3) Khả năng sử dụng mềm dẻo tinh thần và phong cách sống Hiệp Khí Đạo trong việc phân tích vấn đề, định vị vai trò của Hiệp Khí Đạo trong đời sống, vai trò của Huấn luyện viên Hiệp Khí đạo trong đời sống; 4) phương pháp đào tạo con người; biết nhìn người, huấ luyện, tin tưởng và giao quyền. 5) Tinh thần bất vụ lợi, quyết tâm vượt qua khó khăn để truyền bá lại Hiệp Khí Đạo cho thanh niên Việt Nam, đóng góp cho sự phát triển của quê hương.  6) Chứng kiến và thụ hưởng sự “phá chấp” của thầy Đắc và các thầy ở các vùng để nâng đỡ tổ chim non, Aikido Huế, giúp chúng tôi vượt qua 17 năm khó khăn, vất vả, tôi cảm nhận và học được một tinh thần chân Hiệp Khí, một đạo làm thầy, một nghệ thuật làm người từ thầy tôi, thầy Lê Viết Đắc. 

Thầy Lê Viết Đắc cầm cờ ngồi giữa, thầy Hoàng Ngọc Hùng ngồi thứ 3 bên phải sang, thầy Nguyễn Ngọc Thanh thứ 3 từ bên trái sang. Chú nhỏ thứ 3 đứng phía sau từ bên trái là tôi.

 

 

 

 

 

Phần Hai: Thầy Hoàng Ngọc Hùng

 

 “Phá chấp” để giúp người, đừng câu nệ hình thức.

Có thọ “ơn” đời thì phải trả lại cho đời bằng cách giúp người, mà  đã “giúp” thì phải “ích”.

 

Hội ngộ, tương phùng vì Đạo Hiệp Khí

 

Tôi biết thầy Hoàng Ngọc Hùng khi thầy Đắc tìm cách để giới thiệu chúng tôi với các võ sư Hiệp Khí Đạo khác. Thầy Đắc nói “ Aikibudo là một giai đoạn trong quá trình phát triển Aikido của Tổ sư, cho dù có một số điểm khác biệt trong kỹ thuật, nhưng cũng là Aikido. Điểm quan trọng hơn là người tập Aikibudo và Aikido nếu có tinh thần Aikido thì các kỹ thuật, tên gọi không giới hạn tinh thần Aikido.” Thực vậy, học các thầy ở Đà Nẵng ngoài học kỹ thuật còn là học làm người, học đạo hòa hợp.

 

Chúng tôi được các thầy Nguyễn Ngọc Thanh và Hoàng Ngọc Hùng tận tình truyền dạy các kỹ thuật về kiếm, gậy và kỹ thuật tay không. Thầy Hùng chính là người đã truyền dạy các kỹ thuật kiếm đầu tiên cho tôi, thầy đã giới thiệu cặn kẽ về lịch sử, cấu trúc kỹ thuật, kỹ thuật sử dụng và chiến lược sử dụng katana cho tôi. Điểm quan trọng nữa trong giáo huấn của thầy là các ý nghĩa và lễ nghi trong việc dùng kiếm trong chiến đấu, trong trình diễn và lễ bái và răn đời.

 

Kiến thức uyên thâm, bình dị, thực tế:

 

Vốn là người Huế, là thầy giáo, là người đã từng viết nhiều giáo trình nghiên cứu nên cách truyền đạt của thầy Hùng rất dễ hiểu. Thầy Hùng là người truyền ý tưởng về giảng nhanh, học gọn, dạy một lúc nhiều người, nhiều bài cho tôi. Với thời gian ngắn, thầy có thể dạy một lúc nhiều người, mỗi người sẽ tập trung học một bài, một loại vũ khí nào đó làm căn bản. Về sau, các môn sinh sẽ tự luyện và truyền dạy lại cho nhau. Thêm điểm nữa, ngoài Aikido ra thầy Hùng là người giỏi nhiều môn võ khác nhau như Karate Do, Taekwondo, Thiếu Lâm và VoViNam, trong các lần giảng, thầy thường so sánh về kỹ thuật giữa các môn phái khác nhau để làm nổi bật điểm yếu, điểm mạnh của kỹ thuật Aikido.

 

Cách truyền thụ của thầy Hùng về sau làm tôi luôn nghĩ đến phương pháp truyền dạy Aikido cho các môn sinh sau này. Thầy luôn làm tôi phải suy nghĩ về đạo làm thầy, đức làm người là giúp được gì ai thì giúp, nhưng đã “giúp” thì cố gắng cho có “ích”. Dạy học trò thì nhớ dạy cho họ nắm cái căn cái cốt, để sau còn tự học được, nếu không thì chỉ tốn thời gian “vô ích”. Điểm khó của kỹ thuật Aikido là dạy đòn lẻ, cần có Uke và cần thời gian rất dài để có thể rèn luyện được. Còn nhớ có lần tôi công tác ở Đà nẵng, ghé thăm trò chuyện với thầy, thầy cười nói:

 

 “Cám ơn Tổ sư đã đặt cái tên đủ thần uy để bảo vệ cho để tử chứ cách dạy của Aikido so với nhiều môn khác là tréo ngoe lắm. Này nhé! Cầm nã là kỹ thuật cao nhất lại đem dạy đầu tiên - nên học trò khó học là phải. Với điều kiện Việt Nam hiện nay, việc truyền kỹ thuật Aikido phải chú ý sao cho người học tự luyện được một mình - ngay cả khi phải xa đạo đường” 

 

Về sau mỗi khi chuẩn bị tâm thế và kỹ thuật cho các môn sinh khi họ đi xa khi ra trường, về quê, đi đến nơi khác làm ăn, tôi luôn thấy khó cho các học trò mình khi muốn giúp họ duy trì tập luyện, phát triển môn phái. Đặc biệt là những môn sinh sẽ quay về những thành phố, thị xã, tỉnh chưa có Hiệp Khí đạo, hoặc có muốn mở thì cũng không có điều kiện để mua thảm tập mở võ đường.  Những lần trò chuyện với thầy Hùng luôn là điểm tôi suy nghĩ, phải chăng ta phải có những cách thức mới để truyền bá kỹ thuật và tinh thần Hiệp Khí. Một câu nói của thầy Hùng lại hiện lên:

 

 “Kỹ thuật chỉ là phương tiện, đừng để nó giới hạn tinh thần, cái Đạo Hiệp Khí của mình - cái quan trọng nhất của Hiệp Khí Đạo là tinh thần Hiệp Khí. Kỹ thuật phải theo tình thế, hoàn cảnh. Vậy thôi. Về việc dạy thì phải chọn cách giảng phù hợp nhất với người học chứ không chỉ hợp với người dạy. Nhưng đừng tham - giảng 7 nhớ 3, dùng 1 là quý rồi”

 

Một phương thức khác mà tôi luôn tâm đắc với cách dạy “vô vi” của thầy là không cần “học phiệt” quá , mỗi người có cái hay, nhớ cùng họ tìm cái hay của chính họ mà phát triển - biển học mênh mông, thế nào cũng có cái phù hợp. Trong quá trình giúp người, giúp các môn sinh, đồng đạo tôi luôn chú ý điều này, và không những chỉ giúp được họ phần nào, mà bản thân tôi cũng học được nhiều từ cái hay, cái dụng từ cái “bất hợp” của anh em bạn bè.  Ví dụ, trong các học viên hiện là các huấn luyện viên tôi từng giúp đỡ, truyền thụ, có bạn tôi chỉ luôn nhắc về “kiếm pháp”, có anh chỉ là “côn pháp”, có người thì là “đạo pháp”. Có người học trò ra trường, trước khi xa biết không thể tập được Aikdo vì không có võ đường, tôi lại chỉ dạy, định bộ thái cực với cái nhìn nguyên lý Hiệp Khí.  Viêc tùy người mà dạy, tùy thế mà giao việc miễn sao đạt được mục đích là người ta “nhập” được, hiểu và giữ vững nguyên tắc, đạo lý Hiệp Khí Đạo. Đó có lẽ cũng là phương thức ứng xử của tôi trong Hiệp Khí Đạo. 

 

Trò chuyện, tập luyện với thầy có ý nghĩa rất lớn đối với tôi trong việc có cái nhìn về kỹ thuật, cái dụng của võ, cái triết lý của đạo. Với kiến thức uyên thâm về lịch sử, văn hóa, sinh học và công phu võ thuật, trong các câu chuyện thầy luôn nhắc tôi, Hiệp Khí Đạo trước tiên là “võ”, cần có cái thực, cái dụng của “võ”; đường dài thì có nguyên tắc, đạo lý của “đạo” – khi luyện cho mình hay dạy cho người cần phải lưu ý cả “võ” lẫn “đạo” chứ đừng bỏ bên nào.

 

Thầy cũng là người đầu tiên gieo ý tưởng cho tôi về chuyện làm sao để Hiệp Khí Đạo thực trở thành Hiệp Khí Đạo Việt Nam, phù hợp với thể chất, thiên nhiên và văn hóa Việt. Thầy nhắc, nước ta nhỏ, người ta it, trong lịch sử bao lần thắng ngoại xâm là bấy nhiêu lần ta biết dựa vào thiên nhiên, vận dụng tối đa thế mạnh con người Việt, văn hóa Việt.

 

Chỗ đựa tin cậy về tổ chức:

 

Đã thành lệ, cứ mỗi lần tổ chức thăng Đẳng cho các môn sinh là tôi lại vào Đà Nẵng trao đổi mời thầy ra làm giám khảo. Cho dù về sau Hội đồng Huyền đai của chúng tôi cũng đủ số lượng để lập hội đồng. Nhưng lệ cũ thầy Lê Viết Đắc lập năm nào, phải mời một võ sư ngoài đạo đường tham gia làm giám khảo, mời đại diện cơ quan quản lý, các môn sinh và gia đình chứng kiến là điểm hay, chúng tôi vẫn giữ. Không nề hà khó khăn, dầu bận rộn công việc, nhưng khi Aikido Huế vào mời, thầy Hùng luôn vui vẻ nhận lời hứa - chắc một phần vì lời hứa năm nào với thầy Đắc, một phần vì sự hiếu học của đám học trò phương xa.

 

Có lần tôi ở Mỹ quay về nước, kết hợp công việc với thi thăng Đẳng cho các huấn luyện viên. Thời gian có hạn, cho dù có chuẩn bị trước về chương trình hơn cả 2 năm, việc tổ chức thi nhị đẳng cũng cập rập cho các huấn luyện viên. Lịch bay của tôi không thể thay đổi được, mà lịch tập huấn của các huấn luyện viên cũng phải đến lúc đó mới xong. Lịch thi cũng phụ thuộc vào sự tham gia của các thí sinh là huấn luyện viên từ tỉnh khác về nữa. Tôi vào Đã Nẵng gặp trước là thăm thầy, sau là mời thầy làm giám khảo. Thầy vui vẻ nhận lời ra Huế làm giám khảo ngày thứ sáu và thứ bảy. Kỳ thi nhị đẳng kéo dài 2 ngày, ngày thứ sáu gồm phần kỹ thuật và đối luyện, thứ bảy buổi sáng là thiền định, vận khí, buổi chiều là luận văn và hỏi đáp.  Căng thẳng suốt hai ngày, chấm thi xong, cấp đai, kết thúc kỳ thi, Thầy xách cặp chào mọi người ra về. Chúng tôi nài nỉ cố níu thầy ở lại, nhưng thầy nhất thiết không chịu. Sau mới biết thầy đang hướng dẫn một nhóm hướng đạo sinh sẽ xuất phát lên rừng vào sớm hôm sau. Vì vậy, dù đã sập tối, thầy trò phải kéo nhau về dưới Phú Bài đợi đón xe đò cho thầy vào Đà Nẵng. 

 

Dịp tổ chức Hội ngộ 3 miền Huế 2002, trong khi đang lo nhiều việc khác nhau, về tổ chức, thủ tục và cũng lo không biết mình tổ chức rồi mọi người có tham gia không? thêm nữa, hồi đó tôi chuẩn bị đi Mỹ du học, thời điểm tổ chức các hoạt động festival vào tháng 5 sẽ đúng vào kỳ thi tiếng Anh của tôi ở Sài Gòn. Theo kế hoạch, tôi cũng sẽ rời Việt Nam trong năm tới, theo chân thầy Đắc, tôi cũng vào Đà Nẵng lưu ý nhờ thày giúp đỡ, ủng hộ các anh em ở Huế khi cần thiết lúc tôi đi xa. Từ tháng 11, 12 năm 2001 tôi đã lặn lội vào Đà Nẵng trao đổi xin ý kiến thầy. Thầy hiểu ngay ra vấn đề, vui mừng động viên, nhất trí sẽ ủng hộ mọi mặt.

 

Hồi đó tôi cũng phải vận động nhiều nơi ủng hộ và tìm cách để giới thiệu các nơi với thầy Horizoe, vì ý tôi là muốn thầy Horizoe phải mời cho được đại diện của Aikikai và tác động với Uỷ ban Thể Dục Thể Thao quốc gia tham gia. Cũng để thấy Aikido Việt Nam, không chỉ là các trung tâm lớn. Thầy Hùng vui vẻ nhận lời với tôi là sẽ gặp thầy Horizoe và thể hiện sự ủng hộ của Aikido Đà Nẵng với việc tổ chức hội ngộ lịch sử này. Tết 2002, thầy Hùng cùng với các thầy khác đã vui vẻ có cuộc gặp gỡ với thầy Horizoe trao đổi về tình hình sinh hoạt phát triển của Aikido ở Miền Trung, và ý nghĩa của cuộc Hội ngộ ở Huế 2002. Về sau thầy Horizoe nói, cuộc gặp gỡ này đã làm thầy rất tin tưởng vào sự thành công và ý nghĩa quan trọng của kỳ hội ngộ sắp đến ở Huế.

 

Suy ngẫm:

 

Cùng với các nổ lực của thầy Lê Viết Đắc, sự tận tâm ủng hộ, chỉ dạy của các thầy Aikido Đà Nẵng, trong đó đặc biệt là thầy Hoàng Ngọc Hùng đã giúp bầy chim non Aikido Huế năm nào vượt qua được chặng đường đầy khó khăn, trong lúc phôi thai, và chập chững bước ra đời. Sự phá chấp trong các rào cản của tên tuổi, hệ phái, tấm lòng nhiệt tình quan tâm đến sự phát triển của Aikido, để góp phần cho phát triển, giáo dục thanh niên Việt Nam, sự uyên thâm trong võ học và bình dị trong cuộc đời của thầy là điều mà tôi cảm nhận được từ thầy.

 

Mỗi lần gặp nhau, một lần tôi lại học hỏi thêm được ở thầy Hùng bản lĩnh, đạo đức làm người, làm thầy. Cho dù là học trò “vãng lai”, là con “đỡ đầu phương xa”, nhưng tôi luôn cảm thấy một sự gần gũi, tin cẩn ở thầy. Một tấm gương sống đơn giản nhưng chứa đựng vô vàn ý nghĩ sâu sắc, một kho tri thức vô biên. Mỗi khi đứa học trò nhỏ này có gì khúc mắc, cần hỏi, cần cầu viện luôn nghĩ đến và tin tưởng rằng mình sẽ có một câu trả lời, một lời khuyên, một sự giúp đỡ cho lối ra, tôi luôn nghĩ đến một người thầy, thầy tôi, thầy Hoàng Ngọc Hùng.

 

Phần thứ ba: Thầy Bùi Thế Cần

Một chữ “tín” với đồng môn, một chữ “phụng sự” tràn đầy tình thương cho Hiệp Khí Đạo Việt Nam.

 

Gặp nhau, thầy trò không biết mặt:

 

Một ngày cuối thu, năm 1996, tôi nhận được một cú điện thoại, người gọi là thầy Bùi Thế Cần. Tôi có nghe anh Nguyễn Đắc Trí (hiện là trưởng bộ môn AikiDo Huế) khi thầy Đắc xuất cảnh có giới thiệu và gửi gắm chúng tôi cho mấy thầy ở Sài Gòn, như thầy Nguyễn Tăng Vinh, thầy Trương Văn Lương, thầy Ngô Quyền và thầy Bùi Thế Cần. Dù chưa một lần gặp mặt, nhưng tôi cũng có nghe uy tín và vai trò của các thầy cũng như phong trào Hiệp khí Đạo thành phố. Trước khi đi xa, thầy Đắc có căn dặn tôi nếu có điều kiện nên vô Sài Gòn tiếp kiến và học tiếp các kỹ thuật Hiệp Khí Đạo. Thấm thoát đã 3 năm từ khi thầy Đắc ra đi, không ngờ chưa kịp vào thăm các thầy thì thầy đã ra thăm mình. Thầy trò không biết mặt nhau.

 

Thế rồi buổi chiều sân ga, chúng tôi lố nhố đợi thầy, nhưng không biết là sẽ gặp ai. Tàu dừng, khách xuống, anh Trí nhận ra thầy Bùi Thế Cần, cùng đi có thêm 2 vị đồng hành là Giáo sư Huỳnh Minh Đức và Giáo sư Bùi Quốc Châu. Giáo sư Bùi Quốc Châu về sau cũng thâu nhận tôi làm học trò, và tôi có cơ hội học với thầy ở tư gia một thời gian trước khi lên đường du học. Buổi tối, thầy Cần trao đổi là muốn đi ra để thăm coi thử mấy người học trò thầy có hứa giúp với thầy Đắc xem sống chết ra sao. Thầy muốn ghé thăm tận mắt xem thực lực Aikido Huế như thế nào, sau đó còn dự liệu mà giúp, theo lời hứa.

 

Chúng tôi mời thầy ghé thăm và giảng dạy tại đạo đường lúc đó ở 1 Lê Lợi. Mặc dù các thầy cũng muốn đi tham quan cố đô, nhưng các thầy Đức và thầy Châu luôn luôn tôn trọng lịch trình của thầy Cần, “ưu tiên dành thời gian cho thầy trò ông Cần gặp gỡ trao đổi”. Buổi chiều hai thầy lặng lẽ kiên nhẫn theo thầy Cần lên ngồi “xem”. Hồi đó thực tình tôi cũng không biết thầy Đức là ai, thầy Châu là ai. Chỉ nghe nói toàn là nhưng “đại danh, quý tánh” người tài đất Việt cả. Nhưng xem ra các thầy cũng rất thích thú xem thầy Cần giảng giải Aikido cho mớ học trò mới biết nhau được 2 ngày. Buổi tối các thầy cũng tham gia nói chuyện về Aikido về võ đạo và ý hướng phát triển, khó khăn, thuận lợi của anh em Aikido Huế.

 

Sau 1 tuần, chia tay ra về, thầy Cần có trao đổi, “Nếu được các em thu xếp để vào Sài Gòn thầy sẽ thu xếp chỗ ăn ở, tập luyện với các anh huấn luyện viên chủ chốt ở Sài gòn”. Thấy hứa sẽ trao đổi với ban chấp hành hội thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức thi lên Tam Đẳng cho 3 người đứng mũi chịu sào của Huế, là hai vợ chồng tôi và anh Nguyễn Đắc Trí. Thầy ra về, trò lo lắng. Tình thực không biết sẽ ra sao. Chúng tôi hứa sẽ thu xếp để vào sớm. Thực ra thi Tam Đẳng là để có đủ yêu cầu đăng ký dựng võ đường thôi theo như kiểu qui ước ngầm của giới thể thao thôi, chuyện quan trọng hơn là chúng tôi phải vào liên kết với Sài Gòn để còn học thêm và nối với hội lớn, chủ yếu tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh.

 

Nói vậy, hồi đó chúng tôi đâu có tiền, cả tôi và anh Trí đều là thanh niên nghèo, mới đi làm to te, lại mới cưới vợ, còn chạy tiền ăn chưa đủ, sau đó lại vợ sinh nữa. Phải góp nhặt mãi, tháng 6 năm 1997, vợ chồng tôi và anh Trí góp đủ tiền, quyết định khăn gói rồng rắn vào Sài Gòn trước là gặp gỡ các đại sư để học tập, sau là dự thi nếu được. Vợ tôi tức Phạm Minh Thư, cũng vừa nghỉ sinh xong, chúng tôi thu xếp công việc, bồng cháu nhỏ 9 tháng tuổi, khăn gói lên tàu vào Sài Gòn. Anh Trí ở ké nhà người em, vợ chồng tôi và cháu nhỏ về trú ở tàng thư các của nhà thầy Cần và cô Liên ở ngã sáu Phù Đổng.

 

Chúng tôi được các anh Ngô Khắc Hoàng, Đỗ Bá Hậu, anh Đỗ Đặng Phong trực tiếp giảng dạy cho các kỹ thuật theo yêu cầu của chương trình. Sau đó thầy Cần giới thiệu chúng tôi cho thầy Nguyễn Tăng Vinh, Trương Văn Lương và Ngô Quyền, gặp gỡ các anh Đoàn Phú Hiệp, anh Tiến, anh Linh, anh Bàng Sơn, chị Hồng. Các cuộc gặp gỡ trò chuyện với các đại sư của Aikido Việt, các chuyến “tập huấn chạy xô” (tức là, cứ tập ở sân Điện Biên Phủ với anh Hoàng xong, lại chạy ào qua Phú Nhuận gặp anh Phong, anh Hiệp), giúp chúng tôi có cái nhìn rõ nét hơn về kỹ thuật và tổ chức, cũng như phong trào Aikido của thành phố. Chúng tôi thấy cũng tự tin hơn vào một hệ thống môn phái tự lực vươn lên, nhưng rất vững mạnh.

 

Chuyện trục trặc nhỏ của chiếc xe bốn bánh vuông, nuôi dưỡng ý tưởng lớn:

 

Đến sáng chủ nhật cuối tuần thứ 2 ở Sài Gòn, chúng tôi theo thầy Cần đến sân Phú Thọ để thi. Đùng một cái, thầy Vinh, thầy Lương gặp riêng thầy Cần nói, có trục trặc nội bộ. Đến giờ chót, sáng nay các thầy mới biết không thể tổ chức kỳ thi cho chúng tôi được, và sẽ không tổ chức thi cho chúng tôi. Cái hăm hở vì Aikido của 3 anh em chúng tôi, và các anh các thầy như bị xối một ca nước đá, tức là vừa lạnh vì nước mà lạnh lẽo hơn là tình người, vừa đau vì đá đập, mà đập vào đầu, vào mặt.

 

Thực ra, chuyện thi hay không thi này không thành vấn đề với tôi lắm, vì với chúng tôi, không cần cái bằng Tam đẳng thì Hiệp Khí Đạo Huế cũng đủ uy tín để tồn tại. Mục đích quan trọng mà chúng tôi muốn đạt được với sự giúp đỡ của thầy Cần là được nhìn thấy tận mắt, trao đổi học hỏi với các đại sư tên tuổi, các bậc sư huynh của Hiệp Khí Đạo, chứng kiến thực lực và nhu câu xã hội của Hiệp Khí Đạo. Sự quan tâm của thầy Cần, sự ứng xử tôn trọng của các đại sư và bậc đàn anh đối với chúng tôi cũng đã là một thành công với chúng tôi. Việc không tổ chức được kỳ thi cho chúng tôi, cho dù có sự ủng hộ của tất cả các đại sư Hiệp Khí Đạo và các anh võ sư có uy tín nhất, là một trở ngại làm tôi suy nghĩ nhiều về tác hại của sự “bất hòa” nhỏ nhen trong cái “Hiệp khí” to lớn. Mà trường hợp của chúng tôi chỉ là một trong vài trường hợp đã xảy ra. Song song với sự quan tâm của bao bậc thầy nỗ lực cho sự phát triển của Hiệp Khí Đạo vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Mà lỗi làm hỏng hệ thống thì cần phải giải quyết một cách hệ thống.

 

Tối đó thầy Cần và cô Liên đã mời thầy Lương, thầy Vinh và thầy Quyền có bữa tối với chúng tôi tại nhà thầy. Thầy Cần xin lỗi chúng tôi vì việc cuối không thành và động viên chúng tôi đừng nản mà hãy tiếp tục con đường Hiệp Khí. Tôi cảm ơn sự quan tâm chăm lo của thầy và hứa sẽ tiếp tục. Sự quan tâm của các thầy và các anh chính là điểm quan trọng mà giới trẻ chúng tôi phải noi theo. Đặc biệt qua chuyến đi, vợ chồng tôi mới thực sự thấy được sự đóng góp cả về vật chất lẫn tinh thần của thầy Cần trong việc xây dựng, phát triển Aikido thành phố Hồ Chí Minh.

 

Việc phát triển Hiệp Khí đạo Huế vẫn tiếp tục, chúng tôi thường xuyên trao đổi với thầy. Từ dạo đó thỉnh thoảng có cơ hội đi Sài Gòn tôi thường vào gặp thầy Cần và các tập huấn thêm về kỹ thuật với các anh ở thành phố. Thầy luôn động viên thăm hỏi, gửi sách báo thông tin cho tôi cho các bạn ở Huế. Thời gian này, thầy và cô Liên dịch và xuất bản liên tục một loạt tài liệu kỹ thuật Aikido. Tôi thường có các cuộc trò chuyện nhiều với thầy Cần, câu chuyện luôn là vấn đề phát triển Aikido Việt, như một đóng góp cho giáo dục thanh niên thời đại. Các cuộc trò chuyện này, cộng với cơ hội đi lại nhiều, tiếp xúc nhiều tôi có cơ hội “mở mắt” hơn về cảnh quan của Aikido Việt. Việc phát triển Aikido Việt chỉ có ý nghĩa khi Aikido có mặt ở mọi vùng Việt Nam, từ các tỉnh của Việt Nam. Lúc đó, sau gần 40 năm, Aikido chỉ mới phát triển chủ yếu là ở thành phố Hồ Chí Minh. Với cảnh quan đó thì chuyện “trục trặc’ của chiếc xe “lắp bốn bánh vuông” như nhà báo Nam Sơn diễn tả dạo nào, chắc chắn sẽ dẫn tới ảnh hưởng sự phát triển của Aikido ở tầm Việt Nam. Mấy chữ “Hiệp -  Khí - Đạo - Việt Nam” sao mà thấy rời rạc quá.  Tôi càng thấm hơn tầm quan trọng của của những đóng góp lặng lẽ, kiên trì của thầy Cần.

 

Giữa năm 1999, tôi được thầy Cần thu xếp, giới thiệu để gặp thầy Nguyễn Thế Thiên, Huyền đai đệ ngũ đẳng, cao đồ của đại sư Tamura, Việt Kiều ở Pháp về thăm Việt Nam. Gặp thầy Thiên tôi mới biết là thầy Cần đã trao đổi với thầy Tamura và thầy Thiên để trực tiếp gặp và kiểm tra chính thức cấp Đẳng Aikikai cho 4 huấn luyện viên ở Việt Nam. Tôi và anh Nguyễn Đắc Trí ở Huế được vinh hạnh là 2 trong 4 người đó. Thầy Thiên hiểu trường hợp của chúng tôi và yêu cầu của sự phát triển của Aikido Việt Nam, và các cản trở không đáng có do chuyện đai đẳng và tổ chức, đây toàn là những thứ con người tạo ra cả, nếu không biết dụng hoặc dùng sai mục đich chỉ có làm cản trở cho sự phát triển Aikido. Sau kỳ kiểm tra sát hạch thầy bay quay trở lại Pháp, đầu năm 2000 chúng tôi nhận được văn bằng và Passport của Aikikai Hombudojo với dấu triện chứng nhận của đại sư Tamura. 

 

Cũng phải nói thêm là về sau tôi mới biết, để cấp đẳng cho chúng tôi, thầy Thiên, thầy Tamura và thầy Cần đã phải bỏ tiền túi ra nộp cho Hombudojo một khoản, nếu tính ra tiền Việt Nam cũng không ít. Đây là điểm về sau tôi đã phải trao đổi với thầy Horizoe và quyết tâm hình thành Hội Việt Nam, để tránh bớt các khoản chi phí không cần thiết cho chuyện văn bằng, giấy chứng nhận này. Nếu một ngày, Hội Aikido Việt Nam được hình thành, thì Aikikai sẽ công nhận Hội Aikido Việt Nam với tư cách độc lập, chính thống từ đó ta chỉ việc dùng các tiêu chuẩn và cấp văn bằng chứng nhận cho các học sinh, ngang hàng với các hội khác trên thế giới, không phải tốn quá nhiều lệ phí trực tiếp cho Hombudojo. Cứ nghĩ thế này, để thi nhất đẳng hết khoảng 200 đô, nhị đẳng 300 đô, 3 đẳng 400 đô, mà ta có khoảng 500 huyền đai trở lên, tổng lại không biết bao nhiêu tiền. Nếu có thu được chừng đó tiền thì cá nhân tôi sẽ xin rút không lấy bằng, mà đem tiền đó giúp các tỉnh mở các đạo đường Aikido còn có ích hơn. Cái chuyện tốn công, tốn của của thầy Cần giúp tôi lèo lái qua được cái chòng chành sóng gió của con thuyền Aikido Huế non trẻ trên sóng lớn không chỉ có vậy.

 

Cứu lụt

 

Đến 1999, đùng một cái, 6 tỉnh miền Trung ngập chìm trong biển nước, hàng trăm người chết, hàng vạn ngôi nhà bị cuốn trôi. Đạo đường Aikido Huế, thì ôi thôi, chỉ là một đống bùn trộn với trấu. Sau lụt, thầy trò hì hục đào bới, đem ra sân phơi, cả trung tâm chỉ nổi lên một mùi thối của trấu mục trộn bùn tươi. Ngay sau lụt, thầy Cần điện thoại hỏi, “Anh em và gia đình có ai bị gì không? sân tập thế nào”. Hồi đó, ngay trong lụt, tôi cũng trực tiếp tổ chức hàng trăm chuyến cứu trợ cho Phong Trào Tình Nguyện Xanh, nên cũng biết tình hình “rơm, trấu” của cả tỉnh. Sau lụt, anh em tôi đi tìm trấu, rơm, mạt cưa để thay thế, thì hỡi ôi, tất cả các nguồn đều trôi sạch sẽ. Tôi trả lời:

 

 Thưa thầy anh em, nhờ trời, không ai bị gì. Chỉ có sân tập thì chắc phải còn lâu lâu mới vận động lại được, vì thảm tập coi như xong. Mà kẹt nỗi, tất cả những nguồn rơm, trấu, mạt cưa thì chắc không thể tìm được. Cứ để vậy xem đã.”

 

 Thầy nói, thầy sẽ giúp. Tôi nghe vậy cũng cám ơn, nhưng cũng nói thẳng là:

 

Tình thật, có tiền bây giờ cũng chịu, vì rơm trấu, mạt cưa ở các vùng nông thôn bị lũ cuốn trôi sạch rồi”.

 

Thầy nói “Cứ động viên anh em, duy trì tinh thần, thầy sẽ tìm cách để giúp, đừng lo.”.

 

Chuyện tưởng là đã xong, ai ngờ, 2 hôm sau thầy lại gọi điện ra, hỏi : “diện tích sàn tập bao nhiêu? Có lẽ phải làm một sân tập mà nếu có lụt vô, thì cũng không bị sao mới được.”. Tôi không hiểu, vì thực tình, tôi không biết có cái tatami gì sẽ chịu được nước lụt Thừa Thiên này. Thầy nói, “thầy sẽ huy động anh em bạn bè, tặng Huế một bộ thảm tập bằng xốp bitis! 2 tuần sau chuẩn bị để nhận”. Tin này nói thật như đùa. Vậy là thoát! Anh em có chỗ để tập rồi. Tôi mừng hú! Vội hô hào triệu tập anh em, dọn dẹp phòng tập, đổ đám trấu ướt, trộn bùn non hẳn ra ngoài bãi bồi sát bờ sông sau trung tâm Thanh Thiếu Nhi. Khoảng 2 tuần sau, chúng tôi nhận bộ thảm tập gồm 22 tấm xốp kích thước 1m*2m, dày 3cm. Trị giá hơn 12 triệu đồng. Tôi chỉ xin đóng tiền xe cũng đã hết hơn triệu đồng.   Sau này mới biết tiền mua thảm là của thầy với sự đóng góp của của anh em Tenruy và một số bạn bè của thầy giúp. 

 

Hành hương về đền Quốc Tổ, kết nối chuẩn bị cho sự ra đời của Aikido Hà Nội, Quảng Trị:

 

Trong thời gian từ 1998, 1999, 2000 chúng tôi thường xuyên trao đổi với nhau. Trong các buổi trò chuyện, thầy Cần có nhắc đến một võ sư Nhật muốn mở một lớp Aikido tại Hà Nội, và rất muốn tôi giúp trong giai đoạn đầu, vì tôi ở Huế, gần hơn. Vị võ sư đó chính là thầy Horizoe Katsumi, võ sư 6 Đẳng từ Aikikai. Năm 2000, nhân sự kiện 990 năm Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội, tôi được anh Hoàng, anh Phong, and Hậu “triệu tập” tháp tùng thầy Cần, hành hương về đến Hùng du ngoạn và chuẩn bị các mối quan hệ để giúp thầy Horizoe mở sân tập.

 

Trong chuyến hành hương, ngẫm nghĩ sự đời này, các anh em có cơ hội gần gũi với nhau hơn, đặc biệt là tâm niệm hình thành một phong trào Aikido Việt Nam. Đứng dưới chân Đền Thượng, một cái gì đó  thôi thúc anh em tôi, lúc nào thì thực sự có một Aikido Việt Nam, thực của Việt Nam, mang phong cách và phù hợp văn hóa, đất nước, con người Việt. Chúng tôi gặp gỡ một số anh em có điều kiện ở Hà Nội, như anh Hùng ở Judo, anh Trí đai đen ở Dakao ra công tác ở Hà Nội, anh Philip Châu chuyên gia của bộ Nông nghiệp, cũng là học trò hoặc chỗ quen biết của thầy Cần cả. Từ sự gặp gỡ này chúng tôi tham gia với nhau mỗi người một góc giúp thầy Horizoe hình thành sân tập ở số 20 Yết Kiêu và về sau chuyển qua sân Đại học Ngoại thương, rồi Trung tâm đào tạo thanh niên của Trung ương Đoàn.

 

Theo động viên của thầy Cần, hồi đó tôi hay đi công chuyện ở Hà Nội, hầu như mỗi tháng, nên hay tranh thủ giúp thầy Horizoe truyền đạt về kỹ thuật. Thầy Horizoe cũng trao đổi thẳng với tôi, rào cản ngôn ngữ là chuyện khó, còn truyền đạt cho được ý nghĩa của từng đòn thế của Aikido là chuyện còn khó hơn nhiều, nên nếu có điều kiện thì nhờ tôi cùng giúp luyện tập với anh em ở Hà Nội và chỉ dẫn thêm cho họ. Thầy còn mời tôi nếu ra làm việc ở Hà Nội thì lên cứ lên ở nhà thầy cho tiện. Các bạn ở Shudokan VJCC hồi đó cũng gặp nhiều khó khăn về cả kỹ thuật lẫn ngôn ngữ, cũng may anh em cũng là những người học một hiểu mười, hăng say luyện tập và chú ý nghiên cứu nên tiến bộ rất nhanh. Thầy nhiệt tâm, trò nhiệt tình nên Aikido VJCC tiến rất nhanh.

 

Một trong số các môn sinh của Huế tốt nghiệp đại học, ra trường, vác kiếm gỗ về quê, việc kiếm chưa ra đã xin bố mẹ xây một cái nhà nhỏ, mở một đạo đường Aikido. Ở Đông Hà, không có Hiệp Khí Đạo, thế là để kiếm chỗ tập anh chàng liều mạng, xây một phòng tập. Thầy trò tụi tôi hì hục, góp sức góp của, rồi làm mấy cuộc biểu diễn giới thiệu, nhưng xây xong nhà, hết tiền, chỉ đủ mua được miếng thảm tập chắp vá! Biết là khó khăn nhiều của tuổi trẻ, mới ra trường cho có tiền, đặc biệt với cậu cử Nguyễn Vĩnh Hà, ở đất Đông Hà, dư gió Lào mùa hạ, thừa nước lũ mùa đông. Thầy Cần và các anh trong Tenruy Aikido lại trao đổi với tôi tìm cách giúp Hà và các bạn Đông Hà. Khoảng hơn tháng sau, anh em Đông Hà có tấm bạt phủ cho sân tập. Aikido Quảng Trị vậy là có chỗ dung thân, dầu còn vô vàn khó khăn, nhưng cũng bắt đầu nổi ánh sáng Hiệp Khí trên đất gió lửa, mưa phùn.

 

Hội ngộ 3 miền, khởi nguồn cho một giàn giao hưởng:

 

Theo giòng thời gian, tôi xuôi ngược khắp Việt Nam gặp nhiều người, trò chuyện với thầy Cần, thầy Horizoe, các anh trong Hiệp Khí Đạo thành phố, cái kinh nghiệm “kỳ thi không thành” do mấy cái bánh xe vuông luôn vương vấn trong đầu. Sau lụt 99, để động viên tinh thần anh em Huế, và cũng là cơ hội để các anh em Tenryu ở Đạo đường Điện Biên Phủ trẩy hội cố đô, thầy Cần dẫn một đoàn võ sinh đến Huế. Trong kỳ giao lưu, thầy trò trò chuyện nhiều, anh em “giao lưu” hết lòng. Quan sát niềm vui và tinh thần phấn chấn của anh em hai đạo đường. Kẻ chủ chốn Cố đô vừa hú hồn thoát hiểm lụt lịch sử thấy phấn chấn, người khách từ xứ đô hội vui vẻ viếng cố đô, chia sẻ tình đồng môn Hiệp Khí. Các cuộc trò chuyện của thầy trò tôi lại càng xoáy sâu vào việc hình thành một cơ chế để các môn sinh có cơ hội gặp gỡ nhau, các đạo đường có thể giúp đỡ nhau phát triển, các đại sư có thể vui vẻ nhẹ nhàng gặp các võ sư trẻ, chia sẽ kinh nghiệm, dạy giỗ về pháp môn, các bạn trẻ nhiệt tình có nơi giải bày tâm sự, khó khăn, tìm lời khuyên, nguồn trợ lực.  Giã biệt Hội ngộ Huế-Sài Gòn, một tâm tư thầy trò đang nhen nhóm từ bấy lâu nay càng lúc càng lớn mạnh lên.

 

Thấm thoắt đã hơn một năm kể từ khi tôi được thầy Cần giới thiệu cho thầy Horizoe. Do có điều kiện công tác, văn phòng cơ quan tôi ở Trần Hưng Đạo, đạo đường thầy ở Yết Kiêu cách nhau có vài trăm mét. Tôi thường xuyên thăm và tập luyện ở đạo đường này, đến khi thầy Horizoe bị tai nạn. Sau đó trong suốt thời gian 2000 và 2001, thầy Cần, thầy Horizoe và tôi có nhiều cuộc trao đổi về sự phát triển của Aikido Việt Nam như một hệ thống. Tình hình hệ thống hiện tại có rất nhiều trục trặc sẽ giới hạn về sự phát triển và cơ hội luyện tập cho các võ sinh, và phát triển, tiếp cận với Aikido thế giới cho các võ sư. Thầy Horizoe cũng nói thẳng với tôi, hãy tìm mọi cơ hội để “dùng thầy” vào việc có ích nhất cho Aikido Việt Nam, mà thầy chỉ có thêm một năm nữa công tác tại Việt Nam.

 

Thế rồi, khi Ủy Ban Nhân Dân tỉnh chính thức ra thông báo, sẽ tổ chức Festival Huế lần thứ 2, tôi nghiên cứu kỹ chương trinh, vì hồi đó tôi là người thiết kế chương trình Du lịch sinh thái cho Phong Trào Tình Nguyện Xanh Huế. Tôi trao đổi với thầy Cần về việc mời các thầy thăm Huế và giao lưu như hồi năm 2000, nhưng làm lớn hơn chút xíu. Thầy vui vẻ ủng hộ ngay. Ý tưởng lớn của thầy trò đã chuẩn bị từ lâu, hôm sau, tôi lại liên lạc trao đổi và cùng đưa ra ý tưởng, mời thầy Horizoe  “kéo quân” tham gia. Sau đó, tôi điện thoại cho thầy Horizoe, thầy vui vẻ nhận lời, và nói tôi chuẩn bị ý tưởng cụ thể, có gì ra Hà Nội gặp thầy, mặc dù trong ý thầy Horizoe vẫn hơi lo ngại vì tình hình “bất hiệp” của Aikido Việt Nam lúc đó. Ý lớn đã có từ mấy năm trước, lần này chúng tôi nhất quyết làm, nhân có sự mặt và cam kết hết lòng của thầy Horizoe, chúng tôi đã gặp nhau, phác thảo kế hoạch cho festival Aikido Huế.

 

Tình thực lúc đó tôi và các thầy vẫn hơi lo, không biết rồi các đạo đường khác có tham gia không? Trong khi chúng tôi tất bật với việc chuẩn bị cho công tác ơ Huế và thủ tục giấy tờ, công tác an ninh, tài chính, hậu cần ở Huế. Thầy Cần lại trò lần nữa đóng vai chủ đạo trong việc làm công tác tư tưởng, động viên và giải thích ý nghĩa của cuộc hội ngộ giao lưu với các võ sư trong thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, An Giang.  Sự kiện Hội ngộ Aikido ba miền lần thứ nhất trong lịch sử hơn 40 năm của Aikido Việt Nam may mắn diễn ra và thành công, khởi nguồn cho một truyền thống mới của Hiệp Khí Đạo Việt Nam, thực sự ở tầm Việt Nam.

 

Trang web Aiki Việt và home dojo:

 

Cho dù hoàn cảnh lúc này, lúc khác không cho phép tôi được trực tiếp học tập, trao đổi với các hành giả Hiệp Khí Đạo Việt Nam, tôi xin tự nhận tôi rất lưu tâm đến phong trào Aikido Việt Nam. Đến khi đi du học, tôi vẫn tham gia tập luyện và giảng dạy đều ở nơi mới. Tuy nhiên, việc thiếu thông tin về Aikido Việt nhiều khi làm tôi hẩng hụt và đôi lúc thấy mình bị lạc lõng it nhiều. Năm 2005 tôi về công tác tại Sài Gòn, tôi tranh thủ ghé thăm các thầy, được biết thầy Cần dự định sẽ làm chuyện mà thầy ấp ủ từ lâu, là xây dựng một home dojo, và một trung tâm nghiên cứu, trao đổi, truyền bá Aikido cho các hành giả Aikido Việt. Thầy sẽ xây dựng một trang web để tăng cường thông tin về môn phái cho người quan tâm và cho các anh em trong môn phái đóng góp, trao đổi thông tin, trí thức. Từ phương xa, khi nhận được thông tin về trang web Aiki-Viet.com, tôi biết thầy đã làm thầy mong muốn.

 

Trang Web được xây dựng với tiền túi của thầy. Dầu là bước sơ khai, nhưng thông tin về các hoạt động của các đạo đường, các võ sư, nhịp sống Aikido Việt là một phần quan trọng trong việc nuôi dưỡng tinh thần Aikido Việt. Cái khó khăn, cái thành công của Aikido Việt ví dụ như Đồng Nai mở được Aikido Trấn Biên, Thầy Hậu khăn gói ra giúp Bình Phước lập đạo đường, chỗ thầy Cao Quảng Loan (Đà Lạt), anh Quốc, anh Thống đăng cai mở hội, được nêu trên Aiki Việt thỉnh thoảng lại là cái ‘cớ” để vợ chồng tôi, là đôi kiếm sỹ tha phương, còn nhắc nhau và chúc mừng với nhau về sự hình thành của một đạo đường mới, một nhóm huyền đai mới.

 

Thiết nghĩ, để nó có thể trở thành nơi cho các thế hệ Hiệp Khí Đạo có thể trao đổi kinh nghiệm, tâm tư, tình cảm, trang web này là bước đầu quan trọng như một diễn đàn chung. Tôi cũng rất mong các quý vị võ sư, các anh em đồng môn đóng góp thông tin, ý kiến để trang web thực sự trở thành một công cụ giúp phổ biến, trao đổi thông tin kiến thức có hiệu quả, tiết kiệm nhất cho Aiki Việt. Loạt bài viết này cũng nhằm đóng góp chút ít vào kho kiến thức, diễn đàn chung của Aiki Việt.

 

Ngẫm nghĩ:

 

Cùng với sự đào tạo nền móng ban đầu của thầy Lê Viết Đắc, sự quan tâm ủng hộ tận tình của thầy Hoàng Ngọc Hùng, Nguyễn Ngọc Thanh ở Đà Nẵng, sự quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn của thầy Bùi Thế Cần đã giúp tôi học được nhiều điều về tinh thần Hiệp Khí Đạo. Đặc biệt, thầy Bùi Thế Cần là một tấm gương cho một tấm lòng, một sự đóng góp không mệt mỏi trong suốt thời gian gần 30 năm qua của thầy với Aikido Việt Nam nói chung và sự giúp đỡ, động viên lúc khó khăn, vui buồn của anh chị em Aikido Huế và bản thân tôi nói riêng. Sự đóng góp không mệt mỏi, bất vụ lợi (thậm chí đôi khi còn bị thiệt thòi, tai tiếng), của thầy đã giúp phong trào Aikido Việt Nam ổn định và phát triển.

 

Như giới thiệu trong bài viết này, hầu hết những việc tôi làm trong thời kỳ duy trì phát triển Aikido Huế, và những hoạt động về sau khi tôi có cơ hội tham gia đóng góp cho phong trào Aikido Việt Nam, ít nhiều đều có sự động viên giúp đỡ hoặc trực tiếp ủng hộ tham gia của thầy Bùi Thế Cần. Là học trò có cơ hội gần gũi, trao đổi nhiều với thầy và từ những người bạn thân thiết của thầy, tôi hiểu tấm lòng và nỗ lực của thầy là để giúp đưa triết lý, kỹ thuật và hoạt động  của Aikido thật sự gắn liền với xã hội Việt Nam, văn hóa Việt. Những nỗ lực đó nhằm đóng góp, phục vụ cho việc giáo dục đào tạo giới trẻ có kỹ năng, bản lĩnh sống hợp thời đại, luôn chào đòn và tiếp nhận cái mới, nhưng luôn tôn trọng và giữ được bản sắc văn hóa. Những đức tính mà theo tôi là quan trọng đối với thanh niên Việt Nam trong thời đại hội nhập.

Để Aikido thực sự là một tổ chức tập hợp và giáo dục thanh niên phục vụ đất nước, thầy Bùi Thế Cần đã từ lâu cố công nỗ lực cùng với nhiều vị đại sư, các sư huynh, sư đệ đồng môn nỗ lực để hình thành một hệ thống Hiệp Khí Đạo, bảo đảm tính thống nhất cần thiết để tạo sự hợp lực tổng hợp, nhưng vẫn trân trọng cái đa dạng, cái riêng độc đáo của mỗi võ sư, mỗi đạo đường, mỗi khu vực. Tôi còn nhớ đâu đó thầy nói với tôi “Chỉ có tôn trong cái đa dạng, muôn hình, muôn sắc của thiên nhiên, xã hội, thì ta mới thực sự thấy cái giá trị, sức mạnh của sự Hòa Hiệp, thống nhất ”.

 

Đến đây tôi chợt nhớ một câu trong bản Art of Peace của Tổ sư Uyeshiba viết về Samurai và Đạo Hiệp Khí :

“Nghĩa đúng đắc, thực chất của từ Samurai (Võ Sỹ Đạo) là người phục vụ gắn với tình yêu nhân loại.”

 

Phải chăng, các nỗ lực trong thời gian qua võ sư Bùi Thế Cần cũng chỉ là để phục vụ sự phát triển toàn diện của thanh niên, của đất nước Việt Nam. Viết đến đây tôi thấy  rất may mắc có cơ duyên được gặp gỡ, được học tập với thầy tôi, thầy Bùi Thế Cần.

 

 

Tạ ơn các thầy đã không mệt mỏi, lặng lẽ truyền cho tôi kiến thức và tinh thần Hiệp Khí để biết sống giữa đời, vui với người, yêu thiên nhiên.

 

Võ Đình Thanh

Ngày đầu thu, năm Đinh Hợi

Miền Trung Đông, Hoa Kỳ