Vị cha già của Không Thủ Đạo (2)

02-11-2007 11:59

 

LẠC HÀ

Trích “Tập san Võ thuật”-Số 1/69

 

Một tông đồ tận tụy

 

Miyagi không thể lựa chọn một người nào khác hơn nữa. Nhiệt thành, bền bỉ, Yamaguchi đã trở nên một thánh Tây đồ của võ phái Goju ở Nhật. Với ý chí sắt đá, ông khởi sự truyền bá môn võ khắp nước Nhật. Công việc đầu tiên của ông là thiết lập các võ đường. Ông tổ chức hội Không Thủ Đạo đầu tiên tại trường Đại học Ritsumeikan và võ đường Không Thủ Đạo đầu tiên ở miền tây Nhật Bản năm 1930. Dưới sự lãnh đạo không chút mệt mỏi của ông, môn phái bắt đầu thu hút các môn sinh mới và khởi sự lan tràn khắp xứ.

            
 

Mới đầu, trong công cuộc phát triển tại Nhật, Yamaguchi đã thực hiện một sự thay đổi căn bản trong môn phái Goju. Sau khi quan sát các môn sinh, ông đi đến kết luận rằng chi phái Không Thủ Đạo Okinawa, với nguồn gốc cổ truyền là võ Tàu, quá tĩnh và gò bó.

 

Ông tin rằng chỉ tập quyền và tập giao đấu có quy ước không thôi sẽ cản trở rất nhiều người môn sinh. Theo những động tác của phái Okinawa, ông nhận thấy nhiều môn sinh không thể sáng tạo những đòn tổng hợp đủ sẵn sàng hoặc theo đòn có lợi cho mình khi địch thủ để hở.

 

Điều Yamaguchi muốn thực hiện là mở rộng các động tác để môn sinh ra đòn nhanh hơn và tự do hơn. Ông muốn mỗi người có thể tạo cho mình một số đòn liên hoàn, miễn là vẫn giữ những kỹ thuật căn bản của môn võ. Trước hết, ông áp dụng ý kiến trên vào việc tự do đối luyện.

 

Ban đầu, tự do đối luyện được hệ thống hóa thành những đường đi nước bước đàng hoàng. Sau đó, chỉ còn một bước tự nhiên từ việc tự do đối luyện đến việc giao đấu tranh giải. Nhưng đi từ võ đường đến nơi tranh giải, việc tự do đối luyện lại còn biến đổi thêm nữa. Yamaguchi phải nhờ đến số vốn kiến thức của mình về những ngành võ thuật khác để thiết lập một cách đấu tranh giải.

 

Các nguyên lý của kiếm đạo

 

Thời ấy ông căn cứ nhiều vào các nguyên lý của kiếm đạo trong việc thiết lập các luật lệ tranh đấu với tính cách thể thao. Kiếm đạo được ưu tiên vì hai lý do: Nó chú trọng đến kỹ thuật khi tung đòn và giới hạn vùng tấn công. Mặc dầu có nhiều sự dị biệt với các môn khác kế vùng để hở được tấn công, Yamaguchi nhắm vào bụng và đầu như những mục tiêu.

            
 

Ông giải thích: “Trong kiếm đạo, một lưỡi kiếm thật có thể cắt đứt bất cứ phần nào trong cơ thể con người và gây ra thương tích hoặc tử trận. Nhưng để chắc chắn, chỉ có những đòn tấn công nơi đầu và bụng mới được tính điểm”. Đối với Không Thủ Đạo cũng vậy, những vùng tấn công phải được giới hạn. Và loại đòn tung ra cũng thế. Trong khi giao đấu, các đầu thủ chỉ được quyền đấm đá mà thôi. Cùi chỏ, trảo, và những đòn dùng ngón tay và bàn tay xòe bị cấm ngặt. Tuy nhiên, khi giao đấu tại võ đường, ai muốn dùng đòn gì thì dùng, không bị ngăn cản. Bởi thế, người ta thường nhận thấy người đấu giỏi nhất trong võ đường có thể không phải là người giỏi nhất khi đấu tranh giải, và ngược lại.

 

Đi Mãn Châu

 

Với việc giải thoát môn Không Thủ Đạo khỏi bị gắn bó chặt chẽ với các bài quyền, và với sự du nhập khía cạnh tranh giải, môn Không Thủ Đạo đã tiến những bước dài trong vòng mấy năm. Nhưng chiến tranh đã bùng nổ, và dưới sự lãnh đạo của các tướng lĩnh thời chiến, Nhật Bản đã dấn thân vào chính sách bành trướng.

 

Năm 1939, Yamaguchi đã phải rời võ đường mình và được phái đi Mãn Châu như là một nhân viên của Chính phủ Nhật. Ông ở lại đây suốt thời chiến tranh. Trong khi phiêu bạt tại xứ người, ông đã có dịp chu du Trung Hoa để học những ngành võ thuật của nước này.

 

Khi chiến tranh sắp chấp dứt, Yamaguchi bị bắt cầm tù. Vào lúc ấy, vợ ông, bà Midori, lại đang cận ngày sinh đứa con thứ ba. Dẫn theo hai đứa con bên mình, bà Yamaguchi đã đi bộ hàng mấy cây số qua làng bên và sinh nở nơi đây. Mấy tháng sau làng này bị bốn lực lượng quân sự thường xuyên oanh tạc.

 

Mặc dầu là một người trầm lặng và dễ cảm xúc, bà Yamaguchi trong thời kỳ này đã tỏ ra có sức mạnh ngấm ngầm và ý chí mạnh mẽ. Những người thân cận với tổ chức Goju đều nói rằng nếu Yamaguchi không có bà Midori, với ý chí sắt đá của bà bên cạnh trong những năm ấy, ông đã không thể thiết lập được cơ sở của mình. Một vài môn sinh thời xưa cảm thấy yêu mến bà hơn là thầy họ. Bà đã khuyến khích họ và giữ tinh thần họ qua những năm tập luyện gian khổ.

 

Yamaguchi đã có tên trong danh sách làm khổ sai trong trong trại tù chính trị. Nhưng ngay cả những người giam giữ ông cũng đã thấy ông làm sao ấy. Sau bao nhiêu thử thách, họ biết được ông là ai, và sự việc như đã kể ở đầu bài.

 

Cuối cùng, khi Yamaguchi được phóng thích năm 1947, ông trở về quê hương, thấy mọi ngành võ thuật đang tan nát. Quân đội các nước Đồng minh đã đặt võ nghệ ra ngoài vòng pháp luật, trong thời gian họ chiếm đóng. Nhưng may mắn thay, Không Thủ Đạo không bị ảnh hưởng, bởi vì vào thời đó, môn võ này không được người Tây phương biết đến nhiều và các sĩ quan chỉ huy tưởng rằng Không Thủ Đạo là một ngành vũ Đông phương.

 

Dù được may mắn như thế, Yamaguchi vẫn thấy bao nhiêu công việc nặng nề chờ đợi mình. Ông thấy võ đường của mình vô tổ chức trong khi ông đi vắng. Ông khởi sự làm việc với ý chí sắt đá, xây dựng lại tất cả. Một điều đã giúp ông là cái bề ngoài khác thường của mình. Ông đã để tóc dài, theo lối các tu sĩ Thần đạo và các Samurai thời xưa. Bởi những phong thái cổ truyền đã bị dẹp qua một bên sau khi chiến tranh và sự đua đòi theo phương Tây, Yamaguchi lại càng phải đặt niềm tin tưởng mãnh liệt vào những truyền thống của xứ sở bằng cách thể hiện phong thái của các lãnh chúa thời phong kiến cũ.

 

Bành trướng võ nghệ

 

Bề ngoài kỳ lạ và lòng nhiệt thành của ông, với niềm hãnh diện về quá khứ của dân tộc, đã được dân chúng Nhật đáp lại. Những năm sau đó chứng kiến một sự bành trướng đáng kể của môn Không Thủ Đạo, cũng như mọi ngành võ thuật khác, và không những ở Nhật, mà còn ở các quốc gia khác.

 

Có một điều hơi khôi hài là trong khi Nhật Bản không hề truyền bá những tư tưởng của mình bằng vũ khí trong thời chiến, thì những môn chiến đấu cá nhân của nước này lại lan tràn khắp thế giới trong thời bình. Một điểm thích thú nữa cần nêu ra là sự chiếm đóng bằng quân sự tại nước Nhật, xét về một quan điểm là có lợi. Có rất nhiều người ngoại quốc phục vụ tại Nhật đã tìm đến võ đường Goju Kai ở Đông Kinh, luyện tập võ nghệ. Khi về nước, họ mang theo mình môn võ ấy và giúp sức truyền bá nơi hải ngoại.

 

Một trong những công việc đầu tiên mà Yamaguchi thực hiện, từ khi ở Mãn Châu về, là cố gắng làm sống lại lòng hâm mộ võ thuật. Ông quyết định mở một cuộc biểu diễn dài một tuần lễ ở Đông Kinh, trình bày tất cả các môn võ Tàu mà ông đã khám phá trong những năm lưu trú tại đây, cũng như ngành võ thuật cổ truyền Nhật Bản. Kỳ đại hội đó đã gặt được nhiều thành quả và giúp cho việc làm sống lại lòng say mê võ nghệ. Trong lúc đó thì các môn sinh của Yamaguchi từ khắp nơi đổ về họp mặt với thầy.

 

Môn phái vững mạnh

 

Ngày nay, phái Goju là một phái đang bành trướng mạnh tại Nhật. Từ Tổng hành dinh tại võ đường Goju Kai, Yamaguchi coi sóc cả một hệ thống lớn những võ đường, trong các trường học, công sở, xưởng máy và khắp nơi trong xứ. Và Yamaguchi kiểm soát chặt chẽ tổ chức của mình.

             
 

Kết quả là môn phái được tổ chức chu đáo, với những nguồn tài chính lớn mạnh để có thể điều hành và phát triển môn võ. Đối với các huấn luyện viên và những môn sinh cao cấp, ông thường mong một ngày nào đó họ sẽ mở được những võ đường riêng của họ. Ông có thể giúp họ về tiền bạc họ đang cần trong thời kỳ xây dựng.

 

Về phần họ, họ trung thành với môn phái và với chính bản thân thầy mình. Một phần nhờ sự giúp đỡ tài chính, một phần nhờ uy tín cá nhân, Yamaguchi đã thành công trong việc buộc chặt các giám đốc võ đường ấy với ông, thay vì nhìn họ tản mát, thiết lập các chi phái riêng của họ.

 

Để giữ cho cả hệ thống điều hành, phải có những nguồn tài chính vững chắc chảy dần về tổ chức cao cấp để thăng đẳng cấp cho môn sinh. Đã qua rồi cái thời một võ sư dạy ít người, học trò tới tận nhà thầy để tập luyện, Yamaguchi giờ đây có gần 2.000 môn sinh riêng tại Goju Kai mà thôi. Ngày nay, muốn điều hành một cơ sở võ thuật lớn mang lại thành quả, cần phải có tổ chức và tài chính.

 

Tiền quỹ được nhận vào bằng hai cách: Bằng tiền nhập hội mà môn sinh phải đóng khi ghi tên tại một võ đường thuộc phái Goju, và bằng sự cấp phát bằng cấp. Một phần số tiền đó chia cho võ đường địa phương và phần kia gửi về tổ chức trung ương. Yamaguchi đã dùng quỹ đó mở những võ đường mới, trả lương huấn luyện viên, và trang trải các chi phí tổ chức, thường xuất hiện trong một cơ sở quan trọng như “Đế quốc Không Thủ Đạo” của ông.

 

… Và phái Không Thủ Đạo Goju cũng mang một bộ mặt phức tạp, lạ lùng không thua gì người lãnh đạo nó mà chúng tôi đã trình bày trong phần trước. Cách tung đòn của nó chịu ảnh hưởng của một số môn phái khác.

 

Nhiều đòn đánh ra trông rất dịu dàng như trong các phái võ Trung Quốc. Thật ra phái Không Thủ Đạo ở Xung Thằng (Okinawa) bắt nguồn từ lục địa, được du nhập vào Nhật Bản hơn 400 năm nay, và tiến triển thành một môn võ lấy “cương” làm trọng. Về nguồn gốc của toàn môn phái Không Thủ Đạo nói chung, người ta chỉ biết mơ hồ bằng vài mẩu chuyện truyền kỳ do người xưa kể lại, theo những mẩu chuyện ấy thì môn Không Thủ Đạo phát sinh từ thời Đức Bồ Đề Đạt Ma, ông Tổ của môn Thiền học Phật giáo, đã từ Ấn Độ lặn lội qua Trung Quốc (năm 520 sau Tây lịch), trước tiên đến trụ trì tại chùa Thiếu Lâm, Ngài đem những tư tưởng Phật giáo truyền dạy cho môn đồ.

 

Môn thể dục cho các nhà sư

 

Chương trình giảng dạy và kỷ luật của Ngài nặng nề và nghiêm khắc đến nỗi các môn đồ không thể chịu nổi, lần lượt hết người này đến người kia ngã lăn ra bất tỉnh. Từ đó, Ngài dạy cho các môn đồ môn Thể dục và Trí dục đặc biệt. Chẳng mấy chốc, các nhà sư ở Thiếu Lâm tự trở nên nổi danh vì quả đấm vũ bão của họ, và môn võ đó được truyền bá khắp nơi trong nước.

 

Tuy nhiên, chắc chắn hơn, người ta biết rằng Không Thủ Đạo phát triển và hoàn hảo dần trong tỉnh Okinawa, hòn đảo ở phía Đông nam nước Nhật. Giữa hòn đảo này và nước TrungQuốc, từ những thời đại xa xưa, đã có những mối giao thông và trao đổi thường xuyên. Bởi vậy môn quyền thuật Trung Quốc được du nhập vào Nhật, phần lớn do những học giả thời bấy giờ. Nhưng phải đợi đến thế kỷ 15 môn Không Thủ Đạo mới phát triển; Thực vậy, Shôpasi,người cai quản đảo Okinawa, đã ban hành một chỉ dụ cấm sử dụng, sở hữu và mang bất cứ món binh khí nào trên lãnh thổ của ông; ai trái lệnh, phải tội chết. Về sau, vào năm 1609, đảo Okinawa bị lãnh chúa Shimazu chiếm lấy làm lãnh địa. Đến lượt ông, ông cũng cấm tất cả dân chúng ở Okinawa không được sở hữu và sử dụng vũ khí.

 

Như vậy, hai lần không một tấc sắt trong tay, dân cư ở Okinawa đã tìm cách kiếm một phương thế để tự vệ không cần vũ khí và cuối cùng làm hoàn hảo môn chiến đấu tay không: Võ KARATE (Kara: trống không, Te: tay), môn Không Thủ Đạo đặc biệt của họ.

 

Trở lại võ phái Goju, phái này chủ trương rằng nhờ những phương pháp luyện hơi thở, thân thể các môn đệ trở nên cứng cáp, có thể chịu một cú đấm hay cú đá mà không cảm thấy đau đớn gì cả. Thỉnh thoảng, các môn đệ phái Goju đã khổ luyện bằng cách luân phiên nhau, người đang luyện hơi thở để yên cho người kia đấm đá xối xả vào người. Nhưng những cú đấm, cú đá ấy chẳng ăn thua gì cả, vì trong khi vận khí, thân thể họ trở nên cứng như sắt.