TỪ HẢI
Trích “Nguyệt san VÕ THUẬT”- Số 5/69
Lật lại trang sử nước nhà, ta thấy hầu như dân ta, luôn luôn bị lệ thuộc các cường quốc và hầu như bao giờ cũng vậy, trong mọi thời đại, đều vùng lên chống xâm lăng để cho đến khi đánh bại được quân thù mới thôi.
Bằng vào sử liệu ta biết được nổi vinh nhục của dân ta trong quá trình thời đại, ta cũng nhận thấy một số người đã xem sử một cách dễ dàng và có khi đến thờ ơ.
Nếu quả dân tộc đã có nhiều hạng người thờ ơ như vậy thì nước đã mất, dân tộc bị đồng hóa, biên thổ bị bôi xóa. Cũng may trong quá khứ cũng như trong hiện tại, mặc dù mang thân phận nhược tiểu. Đa số dân ta vẫn hiên ngang chiến đấu – bằng mọi cách – để giữ vững quốc thổ, để giữ vững giềng mối đạo đức, phong hóa cổ truyền.
Nhìn vào bản đồ thế giới để nhận diện đất nước thân yêu, nơi mà ta, con dân Việt Nam, đã được sinh ra và lớn lên, lớn mãi với mong muốn cố hữu : an khương lạc nghiệp. Người có chút lòng đã phải bùi ngùi trước sự nhỏ bé của đất mình, sự ít oi của dân mình. Thật vậy đất mình có thấm thía gì so với diện tích khổng lồ của Trung Hoa, Ấn Độ, Mỹ, Nga .v.v. Dân mình lại thật thà nên nghèo rớt mồng tơi. Vì vậy mà trước đây trăm năm có kẻ hàm hồ cho dân mình là thứ dân hèn và họ đã lầm, khi họ giác ngộ, thì chính lúc đó họ ra khỏi lãnh thổ. Họ đã cút đi với nhiều suy tư.
Nói cho rõ thì từ khi dân Việt ta lập quốc dến giờ, dù trong tình thế nào trước nạn ngoại xâm dân ta vẫn đánh đuổi quân thù dành lại độc lập.
Sự kiện yếu thắng mạnh, nhỏ thắng to, nghề võ đều đã dạy và các sách binh pháp đều có ghi, người cầm quân nào cũng biết. Người cầm đầu vận mạng dân tộc trong mọi thời đại của một nước nhược tiểu muốn cho quốc gia mình được yên ổn đều phải biết áp dụng nguyên tắc yếu chế mạnh, ngoài ra còn phải khôn ngoan : biết dùng người, biết tùy cơ và luôn luôn biết tự kiểm.
Khi quốc gia có nhiều người tài xuất hiện cùng lúc mà người lãnh đạo biết hòa, thì nước thịnh cường lân không dám ho he, ngược lại thì dân bị nô lệ. Nước ta không thiếu những nhà lãnh đạo tài ba và biết tạo thời thế như vậy. Vua Lê Thánh Tôn, Nguyễn Huệ và người biết tổ chức như Nguyễn Ánh Gia Long.
Vua Lê Thánh Tôn đương thời biết chiêu hiền đãi sĩ, biết quân cơ, am tường địa lý và đã tạo được một thế đứng vững vàng suốt 500 trăm nay không ai qua mặt được.
Nguyễn Huệ, người biết tạo thời thế, rất anh hùng. Ông là một dũng sĩ võ giỏi hơn Triệu Tử Long, quân cơ cao ngang Tôn Tử.
Gia Long dù đắc tội nhưng hữu ích một thời. Ông là người biết mô phỏng tài tổ chức cai trị theo Triều Lê, nhất là về quân bị.
Biết rằng mỗi ngành trong quốc gia đều có tầm quan trọng ngang nhau : Kinh tế làm giàu mạnh quốc gia, Quốc phòng đảm bảo giữ nước.Trong tình thế đất nước yên bình thì quân bị là việc hệ trọng đứng đầu. Vua Lê Thánh Tôn đã hiểu điều đó và làm đúng nguyên tắc để bảo đảm việc thống nhất xứ sở. Vua Gia Long noi theo đường đi của nhà Lê không phải là sự làm mò. Nội việc tổ chức khoa cử : văn học, võ bị, ta đã thấy ông quả là người có chí hướng muốn giữ ngôi báu lâu dài.
Về Văn : Gia Long mở những khoa thi về Tú Tài cho đến Tiến sĩ dạy người chữ nghĩa để giúp vua trông coi xã tắc.
Về Võ : những kỳ thi võ liên tiếp được mở ra song song với thi văn học. Các võ cử khoa bảng giúp vua coi quân giữ nước. Vua còn mở trường võ qui tụ võ sư bốn phương, các quan đại thần về dạy cho sĩ quan, con các quan trong triều.
Có lẽ nhờ vậy mà đời Gia Long đã làm đươc những việc hữu ích. Các quan võ được trọng vọng đã lập nhiều công lớn như : Lê Văn Duyệt, Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức v.v…. Sau thời đại võ thuật cực thịnh thời triều Lê, thời đại phục hưng mạnh mẽ nhất có lẽ là thời Gia Long. Vua đã lập hai trường võ tại kinh đô lấy tên là Anh Danh và Giáo Dưỡng.
NHỮNG MÔN CHÍNH ĐƯỢC GIẢNG DẠY
Để có một thân thể nở nang, gân cốt khỏe mạnh hầu có thể theo học một cách tiến bộ trong ngành võ, các võ sư cho võ sinh tập xách tạ, (Tây phương không xách mà cử tạ và sau lập thành một trường phái, chỉ chú trọng tới cách tập cho vai u thịt bắp, cho đẹp thể xác mà không luyện tập võ nghệ).
Võ sư còn bắt võ sinh tập đánh đu (loại đu bầu) cho thân hình uyển chuyển. Người đánh đu giỏi tất biết dùng sức của hai bàn chân, của hông, nơi mà từ đó phát ra mọi nguồn sức mạnh cần thiết cho cú đánh, cú đá.
Võ sinh còn đươc tập nhảy cao, nhảy xa, tập nhảy như vậy cốt để thân thể được nhẹ nhàng, để khi di chuyển được mau lẹ hầu có ứng phó kịp thời trong mọi hoàn cảnh cần thiết, lúc luyện tập cũng như giờ lâm chiến.
Về môn nhảy cao, võ sinh đào một hố nhỏ khoảng một bước rưỡi ta, sâu cũng khoảng trên, đứng hai chân khít nhau trong hố và nhảy lên. Ban đầu hố cạn sau đào sâu dần cho đến thắt lưng thì dừng lại. Nếu tiếp tục luyện tập, võ sinh mang những bị cát hoặc bỏ cát vào hai ống quần đã cột chặt nơi cổ chân mà nhảy. Thêm trọng lượng dần dần. Đến một ngày nào đó võ sinh nhảy lên khỏi miệng hầm một cách nhẹ nhàng, với vật nặng mang quanh người bằng sức nặng của thân mình hoặt nặng hơn, thì có thể coi là thành công. Như vậy khi bỏ vật nặng ra võ sinh có thể nhảy lên mái nhà, bờ tường một cách dễ dàng.
Nhảy dài thì võ sinh cũng nhảy như các tay chơi thể thao ngày nay. Ngoài ra võ sinh còn đứng một chỗ nhảy xa chứ không lấy trớn. Nhảy xa có ba cách : nhảy tới, nhảy lùi và nhảy sang bên. Võ sinh tập môn nhảy này để dễ bề tiến thoái khi lâm trận sau này (Võ Việt Nam là võ của chiến trận).
Theo nguyên tắc tập luyện thì mỗi khi nhảy cao hay xa thì võ sinh phải dồn hơi lên ngực (phần trên) gọi là đề khí làm cho thân thể nhẹ đi.
Để cho sự rơi xuống khéo léo hầu di chuyển trên mọi vật trong mọi trường hợp, võ sinh phải tập luyện phải tập di chuyển trên những đồ hình sắp sẵn. Trước hết bằng những viên gạch tiêu để nằm theo đường thẳng, cong, gãy khúc, v.v... Võ sinh phải bước đi đúng tấn và nhanh nhẹn trên các mặt gạch không được để chân loạn hay dẫm xuống đất. Sau đó di chuyển trên các trụ cây có diện tích lớn được đóng cao hơn mặt đất độ một thước rưỡi ta. Ban đầu những trụ cột đặt gần nhau và sau xa dần. Khi võ sinh đã đạt được kỹ thuật này thì có thể di chuyển trên đầu tường, trên mái ngói v.v…
Trong thời Pháp thuộc, nhiều vị bô lão ở nhà quê có dạy môn vượt tường, leo rào cho con cái. Bởi khi Tây đi bố các vị bô lão không chạy xa như người thường, họ chỉ lẩn tránh và có khi chỉ nhún chân nhảy qua hàng rào dứa rậm rạp là có thể tránh thoát quân giặc.
Theo một tờ nhật báo VN phát hành cách đây đã lâu thì ông Cả Đại ở Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương bây giờ) nhảy qua nóc nhà ngói một cách dễ dàng và cô con gái ông ta chỉ đạt một phần công phu của cha mà đã nhảy qua được cây rơm. Điều này không biết có đúng như thật không. Theo lời dạy của một vị võ sư lão thành đứng đầu hàng “Võ lâm tam tuyệt” thời nay thì chuyện con gái ông Cả Đại chưa hẳn là đáng tin. Nhưng theo lời ông thì nhiều vị võ sư xưa quen biết với ông đã thành tựu công phu vượt tường đến có thể tay xách đao, tay xách một bao vật nặng lên nóc nhà, nhảy qua rào v.v…
Như vậy, những công phu trên không phải là chuyện hoang đường, nhưng vì người đời nay không mấy ai cố công luyện tập nên không gặt hái được kết quả mà thôi.
Người võ sinh ngày xưa còn phải luyện tập tay chân cho trở thành sắt thép, hầu tấn công hiệu quả trong những trường hợp không dùng binh khí giao chiến với thù địch hoặc giả khi giao chiến mà binh khí bị gãy thì phải dùng tay chân đánh với địch.
Không như những môn đánh đấm có tính cách thể thao đời nay, võ sinh xưa tập tay bằng cách xỉa năm ngón tay vào thùng, chậu chứa thóc lúa, sạn đá, muối hột v.v… sau cùng xỉa vào vỏ cây, tường đá. Thành tựu võ sinh xỉa xuyên qua thân cây chuối hột một cách dễ dàng hay có thể chộp một cái tróc một mảnh vỏ cây là thường, xỉa vỡ ngói, gạch, gỗ chỉ là những công phu sơ đẳng trong công phu võ thuật mà thôi.
Tập cho chân cứng đá mềm, võ sinh ban đầu đá vào thân cây chuối, sau một thời gian mỗi cú đá gãy được một cây, lúc đó võ sinh đá vào cây, vào tường cho đến khi đá vào bất kì vật cứng nào cũng không còn thấy ê chân, lúc đó mới có thể coi là thành tựu.
Tập đúng mức võ sinh được coi như thành công, cú đá có thể làm chết con cọp. Nhiều người sống về nghề săn thú, làm cây rừng trước chiến tranh võ rất giỏi, họ giết cọp thường dùng cú đá vào hạ bộ của cọp đực. Nhiều cụ già sống vùng Chợ Quán, kể thời trước Sài Gòn Chợ Lớn còn ít người, cọp bên kia kinh Tàu Hủ hay lội qua đình Tân Kiển phá phách, có lần gặp phải Sư ông, Sư đuổi theo đá cho chết dập mật. Ngày nay, sau gần trăm năm không ai luyện tập đứng đắn nên những việc như vậy không thấy xảy ra. Và khi các võ sư Đại Hàn, các huấn luyện viên Thái Cực Đạo VN, biểu diễn chặt gạch, đá ván, nhiều người thấy làm khiếp sợ. Thật ra đó chỉ là công phu sơ đẳng trong võ học mà thôi.
Ngoài những môn trên, võ sinh được tập phần quan trọng đó là phần quyền cước. Võ sinh được võ sư chỉ dạy từ thế tấn căn bản cho đến lúc di chuyển khá tinh mắt mới bắt đầu dạy đấm, đá, đỡ gạt, gọi là chơn quyền, ngày nay người ta gọi là thế căn bản. Sau khi võ sinh tập quen, đúng các chơn quyền, võ sư mới dạy cho các bài quyền. Bài quyền là một cách kết hợp các thế chiến đấu theo một trận thế ấn định sẵn (lược đồ). Bài quyền có nhiều thế hay ít tùy theo bài, tất cả đều rất hay. Và tùy theo công phu tập luyện người võ sinh sẽ được thầy chỉ điểm cách thức chiến đấu gọi là “phân thế”. Và cũng tùy trình độ cao thấp võ sư sẽ dạy cho võ sinh những bài quyền hay, cao hơn, nghĩa là có những thế chiến đấu cao diệu hơn.
Một võ sư Việt Nam đúng danh nghĩa và được nhiều người mến mộ phải thông hiểu dịch lý, y học, và biết cả võ thuật Tàu và Việt.
Võ sinh gặp được bậc thầy như vậy sẽ được học đầy đủ về quyền Tàu và cả quyền Việt Nam. Thường một bậc thầy phải có nhiều từng trải, kinh nghiệm, dĩ nhiên là cao niên.
Sau một thời gian luyện tập quyền, thân người võ sinh mềm dẻo tự nhiên, võ sư mới dạy cho võ sinh tập đến binh khí gọi là “thập bát ban võ nghệ”. Thật ra không phải chỉ có mười tám môn binh khí, mà có nhiều hơn. Và võ VN cũng có nhiều môn binh khí mà võ Tàu không có. Nhưng ở một trình độ thấp, võ sinh chỉ đươc học những binh khí thông dụng như : kiếm, côn, roi v.v… cao hơn sẽ học thương, siêu, tùy, phủ v.v… đặc biệt võ Việt Nam ta có môn lăn khiên rất độc đáo, môn thiết lĩnh, bút chì, bút sắt. Cách sử dụng những môn binh khí rất là khó khăn, cần phải luyện tập một thời gian lâu dài.
Ngoài ra võ sinh còn tập bắn cung, ná (nỏ), về sau võ sinh tại kinh thành còn được tập bắn súng hiệp (một thứ súng thô sơ, nòng dài như súng trường bây giờ nhưng sức công phá kém).
Đa số võ sinh khổ luyện, khi thành tựu mới về kinh thành dự thi khoa bảng. Hy vọng của họ là sẽ được làm quan, thống lĩnh binh coi giữ lãnh thổ. Trong khi đó, có người chỉ suốt đời luyện tập nhưng công phu đặc dị đến mức siêu phàm, và không bao giờ nhập thế.
Nhưng muốn ra làm quan võ sinh còn phải học cách dùng binh, học chiến thuật chiến lược, tất cả cái đó gọi là binh thư. Một tướng tài có thể tính toán giờ giấc xuất quân, lui quân, để đạt thắng lợi tối đa bằng cách xem thiên văn, địa lý, tính nham độn v.v… Làm tướng phải biết đủ Lục Thao, Tam Lược, phải học thuộc binh thư Tôn, Ngô, Khổng, và Binh thư của Hưng Đạo Vương.
Theo Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn, thì năm Gia Long thứ 6 (1807) có mở kỳ thi Hương đầu tiên, nhưng theo ông Toan Ánh trong cuốn Người Việt Đất Việt thì mãi đến năm Minh Mạng thứ 17, mới có khoa thi võ đầu tiên mở tại 3 địa điểm Thừa Thiên, Thanh Hóa, Hà Nội. Theo ông Phạm Văn Sơn thì có 6 địa điểm để thi Hương tính từ Nam ra : Gia Định, Bình Định, Thừa Thiên, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nam.
Ông Toan Ánh viết : Đến năm Thiệu Trị thứ năm (1845) nhà vua ấn định những năm thi rõ cho các khoa thi Hương và thi Hội. Võ Hương Thí thi vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, còn Võ Hội thí mở vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Thi văn xong đến thi Võ. Thi Hội trúng, các thí sinh cũng vào thi Đình như thi văn.
Ông Phạm Văn Sơn viết : Vào năm Gia Long thứ 6 ( 1807) có mở khoa thi Hương đầu tiên, ấn định 6 năm mở một khóa, đến thời vua Minh Mạng, lệ này rút xuống 3 năm, cứ mở vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, thi Hội mở vào năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi v.v…
Ta thấy dù rằng hai tác giả trên nêu lên hai niên hiệu khác nhau về kỳ thi võ nhưng có điều là những năm thi lại giống nhau, ông Toan Ánh bảo có thi Đình, còn ông Phạm Văn Sơn chỉ viết đến thi Hội. Nên biết thi Hương chỉ đỗ được Tú tài và Cử nhân còn thi Hội thì đỗ Phó bảng và thi Đình mới đỗ Tiến sĩ.
Một cuốn cổ thư xưa gần 100 năm do một võ sư lão thành cất giữ như một bảo vật: