TỪ HẢI
Trích “Nguyệt san VÕ THUẬT”- Số 5/69
THỂ LỆ THI CỬ
Thi Hương cũng như thi Hội thí sinh đều phải qua kỳ : xách tạ, múa côn, sang và bắn súng hiệp.
THI HƯƠNG
Kỳ thứ nhất : Xách Tạ
Thí sinh phải xách một quả tạ nặng đúc bằng chì, nặng một tạ hai, một tạ của ta bằng 60 kg. Thí sinh phải xách bằng hai tay hai quả và đi ít nhất là một quãng là 8 trượng trở lên. Nếu xách một quả phải đi gấp đôi, nghĩa là 16 trượng. Đi được 8 hay 16 trượng. được kể là thứ hạng. Đi dưới 8 hay 16 trượng được xếp liệt hạng. (Mỗi trượng bằng 6 mét).
Thí sinh đi được 12 hoặc 24 trượng, tùy xách một tay hay hai tay được kể là bình hạng.
Nếu đi được 16 hay 32 trượng được chấm ưu hạng (theo Toan Ánh).
Ông Phạm Văn Sơn viết về kỳ thi thứ nhất : Cử trương là phải xách hai quả cân hay tạ bằng hai tay đi vòng quanh 50 trượng, đủ 3 vòng mà không sa xuống, thế là trúng cách.
Kỳ thứ nhì : Múa côn, sang
Toan Ánh viết : dưới triều Minh Mạng kỳ này gồm múa côn đánh quyền và đấu gươm mộc, đấu gươm mộc đôi bên dùng võ lăn khiên đấu với nhau.
Đến đời Thiệu Trị, việc thi cải cách lại và bắt các võ sinh phải múa côn và múa sang.
Múa côn : Cây côn nặng nửa tạ, tức là 30 kg, võ sinh cầm vào khoảng một phần ba, vừa đi vừa múa, nhảy nhót, đấm đánh, theo những thế võ về cách sử dụng côn, né tránh, đỡ gạt tùy lúc. Vừa múa vừa đi được ngoài 60 trượng là ưu hạng, ngoài 50 trượng là bình hạng, ngoài 40 trượng là thứ hạng. Đi không được 40 trượng bị loại là liệt hạng.
Múa sang : Ngọn sang chính là ngọn giáo dài 7 thước 7 tấc ta. Lúc sử dụng ngọn sang võ sinh cầm vào giữa khúc để múa theo những bài võ về sang, khi nhảy nhót, khi gạt ngang đỡ dọc.
Trước mặt võ sinh, cách xa độ 3 trượng có dùng một người bù nhìn. Võ sinh sau khi múa may nhảy nhót độ 3, 4 bước phài nhắm người bù nhìn cho kỹ, rồi chạy thẳng tới đâm vào giữa rốn người này.
Đâm đúng, mũi sang xuyên qua người bù nhìn là ưu hạng.
Đâm trúng, mũi sang không xuyên qua người bù nhìn là bình hạng.
Đâm trúng, nhưng mũi sang chỉ trúng qua là thứ hạng.
Đâm không trúng là liệt hạng bị bại.
Ông Phạm Văn Sơn cho kỳ thi đệ nhị là môn bắn bia :
Một tấm bia bằng cây cao độ 3 thước, trồng chính giữa nhà thập đạo (trong trường) hai thí sinh khi đã đỗ trường thứ nhất rồi, đều lo dự bị cung tên, một cây ná và 9 mũi tên, mang theo đến ngày đó, trực gọi tên vào thi kỳ đệ nhị, tức kỳ thi bắn bia.
Bia vuông cao, trung tâm có một vành da tròn bằng cái đĩa lớn. Bắn mũi tên vào trung tâm tức trúng đích, xích ra một, hai phân, cũng được đậu , nhưng liệt vào thứ hạng, lọt ra ngoài vành tròn, thế là liệt vào hạng rớt. Thí sinh đứng xa bia 30 mươi trượng. (Thi Hội phải xa 50 trượng ). 50 trượng tức là 200m. Con số trên đây chắc là không đúng.
Bắn trúng đích đủ 9 mũi tên mới đươc trúng cử.
Trong mũi tên có viết tên, họ của thí sinh để tránh sự gian lận.
Kỳ thứ ba: bắn súng hiệp (Toan Ánh)
Một chiếc ụ được đắp nên, và trước chiếc ụ có bốn tâm làm đích, chung quanh có vành tròn.
Thí sinh đứng xa ụ 20 trượng 5 thước ta và được bắn 6 phát súng.
Được kể là bình hạng nếu có một phát trúng đích, một phát trúng vành tròn, bốn phát trúng ụ đất.
Được kể là thứ hạng nếu được hai phát trúng vành tròn, bốn phát trúng ụ đất.
Bắn 6 phát đều không trúng đích hoặc trúng vành tròn, hoặc chỉ trúng được một phát, bị bại và xếp vào liệt hạng.
Qua kỳ thi thử sức thử tài trên, ai có ưu bình được đậu võ cử nhân, còn chỉ có toàn thứ thì đỗ tú tài.
THI PHÚC HẠCH
Số cử nhân, tú tài này đỗ xong, các võ sinh phải qua kỳ phúc hạch, để phân hạng trên dưới.
Trong kỳ thi phúc hạch, các võ sinh phải làm bài trả lời mấy câu hỏi được căn cứ vào đó để xếp hạng các võ tân khoa.
Kỳ thi thứ ba : (Phạm Văn Sơn)
Kỳ thi đệ tam là các môn quyền thuật.
Quan giám khảo bắt thăm, hai thí sinh dùng cây đoản côn tỉ thí với nhau. Thí sinh nào được thắng ba hiệp là trúng cử. Trúng cử kỳ đệ tam, tức là có hy vọng trúng kỳ đệ tứ, đỗ Cử Nhân.
Kỳ thi thứ tư :
Kỳ thi thứ tư phải đi đủ 3 môn : cử trượng, bắn bia và đi quyền.
Thi đỗ 4 kỳ rồi, ban giám khảo gom lại phân-điểm. Nếu thí sinh nào cao phân-điểm thì lấy đỗ thủ khoa, dưới nữa lấy đỗ Cử Nhân.
THI HỘI
Toan Ánh viết : Các võ sinh trúng tuyển cử nhân kỳ thi Hương được vào thi Hội. Phép thi Hội cũng như phép thi Hương. Hai quả tạ của thi Hương cân nặng 60 cân ta, nhưng quả tạ của thi Hội nặng hơn 5 cân, nghĩa là 65 cân.
Thi Hương phải đi 16 trượng, thi Hội phải đi 20 trượng.
Ngọn côn và ngọn sang của thi Hội cũng nặng hơn, riêng về múa sang, người bù nhìn cũng cách xa võ sinh hơn.
Bắn súng hiệp, võ sinh cũng phải đứng xa hồng tâm hơn lúc thi Hương.
Các điểm cũng cho theo ưu, bình, thứ, liệt như thi Hương. Các thí sinh trúng đủ ba kỳ được trúng cách và được dự thi Đình.
Phạm Văn Sơn viết về võ Hội thí như sau :
Võ Hội thí, các tỉnh đều qua tập võ cữ nhân về kinh đô Huế ứng thí. Thể lệ võ Hội thì cũng xách cân nặng hơn nửa tạ và đi xa hơn 10 trượng.
Kỳ thi đệ nhị bắn bia phải bắn 12 mũi tên vào đích mới được trúng cách.
Kỳ thi đệ tam : Quyền thuật thí sinh phải đánh thắng 4 độ mới được đúng cách.
Có thêm một kỳ thi thứ tư nữa là môn thi lăn khiên.
Cái khiên hình như tấm bảng vuông phía sau có quai.
Thí sinh mang quai che khiên trước thân thể mà lăn tròn. Một vị giám khảo, cầm cây giáo, đầu mút quấn vải, nhúng mực đen, nhắm ngay thí sinh lăn khiên đâm vào, nếu dấu mực bạt ra ngoài bìa tấm khiên thế là đậu, nếu dấu mực dính đen vào tấm khiên là rớt, vì người mang khiên không tránh né được.
Lăn tròn đủ 3 vòng, mới đúng thể lệ.
Đến trường đệ ngũ thì đủ cả 4 môn, nếu hoàn toàn không lép môn nào, được chấm đỗ võ Phó Bảng.
Nước Việt Nam không lấy Võ Trạng Nguyên, chỉ phỏng theo nhà Lê có lấy Võ Tiến Sĩ. Nhưng muốn đỗ Võ Tiến Sĩ phải có tình nguyện thi một bài bằng chữ nho, bài ấy đều đề hỏi về binh thơ đồ trận và địa thế hành…Phần nhiều các võ cử không mấy vị tinh thông, vì vậy chưa thấy có vị nào đỗ Tiến Sĩ.
THI ĐÌNH
(Toan Ánh) : những người trúng cách thi Hội được vào thi Đình, tuy vậy ai không muốn thi cũng được. Trong kỳ thi Đình lấy văn tự làm đầu, người không biết chữ có thể xin miễn.
Thi Đình gồm một bài hỏi về võ kinh, một vài điểm yếu lược về cách dùng binh của các danh tướng nhà Nguyễn và một vài câu hỏi về thời sự.
Hội đồng giám khảo dưới quyền chủ tọa của Hoàng Đế, xét văn lý hoặc kiểm định văn số. Ai được đủ phân số đỗ vào Tiến Sĩ, được ban mũ áo, cờ, biển vinh qui cũng như Văn Tiến Sĩ.
Những thí sinh không có phân số nào hoặc trúng Hội thí mà không thi Đình đều được lấy đỗ Phó Bảng.
Những Võ Tiến Sĩ gọi là Tạo Sĩ, Võ Phó Bảng, Võ Cử Nhân, sẽ được triều đình lựa chọn cho bổ dụng cũng như các Văn tân khoa, quyền lợi của các ông Võ khoa về làng xã, tại nơi đình trung cũng được tôn trọng như các ông Văn khoa vậy.
Ông Toan Ánh viết rõ ràng hơn nhưng cũng không ghi thêm chế độ thi Võ bãi bỏ từ năm nào.