Bồ Đề Đạt Ma & Môn võ Ấn Độ KALARIPAYAT.

04-04-2008 15:27
Kalaripayat thịnh hành khắp Ấn Độ, đặc biệt là ở miền nam bang Kélara. Kalaripayat là môn võ thuật truyền thống đích thực có cội nguồn lâu đời. Sau đó thì những môn đệ của Đức Phật đã phát triển ra các nước châu Á để rồi sau này trở thành võ thuật truyền thống hiện đại. Riêng ở Trung Quốc xưa, theo truyền thuyết thì chính Ngài Bồ Đề Đạt Ma đã truyền bá môn võ thuật này đến đó.

 

Bùi Thiện Chiêu – Vương Tấn Thái.

 

 

NGUỒN GỐC:

 

Kalari là một cổ thụ bắt rễ từ bang Kêrala, nơi cao nguyên Đêcan tiếp giáp với biển, cành lá tỏa rợp khắp Ấn Độ. Võ Kalari xuất phát từ Kalaripayat, binh thư đồ trận của nữ thần chiến tranh Ấn Độ Mahakali, có một lịch sử lâu đời. Theo những văn bản xưa còn lưu lại, quyền phổ Sutra (kinh) ghi các chiêu thức và huyệt đạo con người, võ Kalari được hệ thống hóa một cách khoa học cách nay hơn 3000 năm. Các võ sư Kalari đều là những người minh triết, chẳng hạn như Bồ Đề Đạt Ma là một. Thập niên trước đây, đài BBC (Anh) đã thực hiện một phim tài liệu về võ thuật Kalari còn sót lại trên đất Ấn cho thấy những chiêu thức và võ công (nội ngoại công) không khác gì quyền phổ Sutra đã ghi trước công nguyên hơn 1000 năm.

 

* VÕ CÔNG:

 

Võ Kalari được truyền dạy và rèn luyện trong các ngôi đền thờ Tổ sư nữ thần Mahakali và các võ sư bậc thầy tiền bối. Bắt đầu buổi tập luyện, các võ sinh thực hiện nghi lễ bái Tổ, năm phủ phục trước bàn thờ có ảnh tượng của nữ thần. Nội dung tập luyện gồm có phần khởi động trước tiên, chung cho các bộ môn, sau đó tùy theo trình độ của người thụ giáo: quyền pháp, võ công nội ngoại, vũ khí, y võ huyệt đạo. Khởi động là những động tác lập đi lập lại đủ bốn hướng có mục đích làm mềm dẽo các cơ khớp và thư giản thần kinh.

Các võ sĩ Kalaripayat xáp trận

Quyền pháp Kalari được diễn mềm mại uyển chuyển như múa, như thể nghi lễ thờ phụng. Các nhà nghiên cứu võ học tự hỏi phải chăng công lao của các nhà sư Thiên Trúc là du nhập hình thái này vào đất Trung Hoa ươm trồng, sau nẩy nở sau phát triển thành nhu quyền. Về các công phu nội, ngoại công, các võ sư Kalari biểu diễn  đi chân không trên than hồng, nằm lưng trần trên mảnh chai vỡ, năm cho ô tô chạy qua trên tấm ván đặt ở bụng, dùng kìm kẹp vào các bắp cơ không chút hề hấn… Với những đặc dị công phu, võ sư Batari cầm cái chảo kim loại hơ vào lửa trong nữa tiếng đồng hồ, tay không phỏng. Đôi tay ông còn có sức mạnh bẻ gãy cây thông mà sáu người lực lưỡng không sao làm được. Võ sư Rummuati dùng ngực đở một con voi. Võ sư Xixila biễu diển khinh công tỉnh tọa hoa sen treo lơ lửng trên không trung, với một tay níu sợi dây mảnh, đánh bằng đay, cột hai đầu hai cây sào dài trồng thẳng đứng.

 

* VŨ KHÍ:

 

Các vũ khí cổ xưa vẫn còn truyền dạy như kiếm, dao. Các võ sinh biểu diễn song đấu vũ khí thật như: dao, kiếm thép nặng và bén, họ múa vun vút, vũ khí chạm nhau loảng choảng, nhưng họ không hề hấn gì. Loại thiền trượng rất được nhân dân ưa thích, ai cũng tập. Gậy ngắn Silamban cũng được ưa chuộng, phổ biến đến độ ai cũng có thể cầm một khúc gổ ngắn làm vũ khí tấn công hoặc tự vệ rất hữu hiệu. Các cao thủ loan Silamban kín đến mức cách xa chừng ba thước gạch đá ném không lọt trứng người. Còn có những vũ khí đặc thù của xứ Ấn như Onta hình thù như ngà voi, dài khoảng 4 dm dùng để điểm huyệt. Người Ấn vận xà rông, chiếc thắt lưng cũng là vũ khí khi cần, gọi là Urimi, dây thép mỏng và bén tương tự như liễu diệp kiếm của các hiệp khách diệu thủ Trung Hoa quấn quanh eo. Một thứ vật dụng cũng được coi làm vũ khí là chiếc khăn Ururoly, dân lao động hay vắt vai lau mồ hôi ở xứ nắng nóng. Giới giang hồ võ lâm Trung Hoa cũng sở trường cân pháp (phép đánh khăn).

 

(Còn tiếp)