Trang chủ Hỗ trợ Aiki blog Forum Liên lạc Cấu trúc site
Suy niệm trong ngày:
Aikido không nhằm chiến đấu hay tiêu diệt kẻ thù. Aikido là con đường đưa đến hòa hợp tất cả mọi người trong một gia đình. (Ueshiba Morihei)
Nhịp sống Aikido
Đạo đường
Võ sư - Huấn luyện viên
Địa chí
Rong chơi
Ảnh sinh hoạt
Dòng sử
Phỏng vấn
Oai hùng Việt Nam
Lý thuyết
Giáo dục Aikido
Thư mục
Thuật ngữ
Kỹ thuật
Trắc nghiệm
Y khoa thể thao
Võ thuật đông tây
Vui cười
Giai thoại
Văn
Thơ
Ảnh đẹp
Ảnh đẹp Đà Lạt
Video
Aiki shop
Cảo thơm lần giở
TRAO ĐỔI
MÙA XUÂN KỶ SỬU 2009
  Từ điển  
Nhập từ
Chọn từ điển
   
Số lượt truy cập
    2993453    
 
Trang chủ Oai hùng Việt Nam Làm trai cho đáng nên trai (1)
Làm trai cho đáng nên trai (1)

 

Mai Văn Muôn

(tìm hiểu Võ thuật tập 8, 1991)

 

Trọng văn là một thái độ phổ cập trong xã hội cổ Đông Phương, nhưng không vì thế mà đã có sự khinh võ. Thực ra, võ học cũng được lưu tâm không thua văn học và cuộc đời vùng vẫy dọc ngang của người theo nghề võ cũng vẫn là ước mơ của mọi đám đông. Nhưng nghề võ tại Việt Nam đã diễn biến trong điều kiện nào ? Loạt bài tìm hiểu về võ bị và binh chế cổ của VN của tác giả Mai Văn Muôn được khởi đăng từ tập này sẽ trả lời phần nào câu hỏi trên.

VÕ BỊ VÀ BINH CHẾ VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ 15 TỚI THẾ KỶ 18

 

Vào giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống xâm lược Minh, Bình Định Vương Lê Lợi rất coi trọng chất lượng quân đội. Năm 1427 chỉ còn chờ hạ thành Đông Quan, quân đội tuy rất quen chiến trận, mà vẫn phải tổ chức tập trận thủy chiến. Cũng lúc này, để xây dựng đội thị vệ, bộ chỉ huy khởi nghĩa cho tuyển con em của dân chúng giàu có, thân thể khỏe mạnh, tinh thông võ nghệ, tinh thần gan dạ, mỗi viên thiếu úy phải tuyển 200 người, kẻ nào nhát sợ thì không dùng. Quân luật rất nghiêm, các võ quan được lệnh ngày thường không được tự ý giết binh sĩ phạm pháp nhưng khi ra trận mà trái lệnh thì chém trước tâu sau. Lại ban ra mười điều quân luật và ba điều răn các quan võ.

 

Năm 1428 kháng chiến thắng lợi, vua Lê Thái Tổ cho quân của cả 5 vệ tổng thao diễn biểu dương lực lượng, sau đó giảm quân số từ 35 vạn xuống còn 10 vạn ; chia làm 5 phiên lần lượt thay nhau 4 phiên về làm ruộng, chỉ giữ một phiên gồm 2 vạn tại ngũ làm quân thường trực. Số quân ấy ít, song trong cả nước số quân nhân phục viên biết võ nghệ quân sự rất đông lại vẫn thường xuyên luyện tập võ nghệ nên khi cần Nhà nước có thể huy động một đạo quân thiện chiến rất lớn.

 

Chế độ binh chế được xây dựng chu đáo ngay từ thời Lê sơ, về sau thời Lê trung hưng, vẫn theo tổ chức cũ. Cuối năm 1428 nhà Lê đặt quy chế về cờ xí, nghi trượng cho các quân, chiến khí và thuyền ghe : trung đội cờ vàng, thượng đội cờ đỏ, hạ đội cờ trắng. Mỗi vệ một lá cờ lớn của chủ tướng. Mỗi quân một lá cờ hạng trung, 10 lá cờ đội và 40 lá cờ nhỏ. Thuyền chiến dùng vào hỏa công 10 chiếc, thuyền nhỏ đi tuần thám hai chiếc. Ống phun lửa loại đại tướng quân một chiếc, loại lớn 10 chiếc, loại trung 10 chiếc và loại nhỏ 80 chiếc. Nỏ mạnh 50 cái, câu liêm 50 cái, giáo dài 50 cái, phi liêm 40 cái, mộc mỗi người một chiếc. Phi tiêu (thủ tiễn) hạng nhất dùng mỗi người một chiếc, hạng nhì dùng mỗi người 3 chiếc ; dao to mỗi người 1 con. Mỗi quân và mỗi đội đều có một người thư lại biên chép.

 

Quân đội nhà Lê ở giai đoạn đầu vua Lê Thái Tổ chia làm 6 quân ngự tiền và 5 quân đạo. Quân ngự tiền đóng ở kinh đô bảo vệ kinh thành, quân các đạo đóng ở địa phương. Các triều vua tiếp theo ngày càng hoàn chỉnh hệ thống quân đội, gồm thân binh hay cấm binh bảo vệ kinh đô, cung điện nhà vua, và ngoại binh trấn giữ các xứ.

 

Quân đội phải thường xuyên tập võ nghệ và trận pháp, lại phải thao diễn để nâng cao trình độ chiến đấu. Năm 1434 vua Lê Thái Tổ ra sắc lệnh cho các quân ngự tiền và quân năm đạo đúng ngày 20 tháng giêng tập trung ở kinh thành để thao diễn gọi là đại tập quân kỳ. Riêng quân các đạo Thanh Hóa trở vào Nam, vì đường xa được tập trung ở bản trấn để diễn tập. Các vua sau đó, đặt việc diễn tập hàng năm này thành lệ thường. Ngoài ra thỉnh thoảng Nhà nước còn tổ chức diễn tập riêng từng binh chủng. Chẳng hạn năm 1435, nhà vua đi xem vệ quân năm đạo tập trận lục chiến, khi về lại duyệt thủy binh tập thủy chiến ở sông Nhị Hà. Cũng năm ấy, trong khi quân các đạo điểm duyệt tại bản trấn, thì các quân ngự tiền được giảng tập võ nghệ ở sân rồng nơi cung điện. Nhà vua chẳng những trực tiếp điểm duyệt quân đội, còn trực tiếp xem quân đội luyện tập. Chẳng hạn năm 1435 nhà vua đến bến Đông Tân xem năm quân thi bơi, năm 1437 vua đến trường đua xem tập võ nghệ, năm 1438 và 1439 cho các quân vào sân điện Giảng Võ tập tượng trận…

 

Năm 1467 vua Lê Thánh Tông ban bố quân lệnh gồm 31 điều về thủy trận, 32 điều về tượng trận, 27 điều về mã trận và 42 điều về bộ trận cho quân túc vệ kinh sư, đồng thời nhà vua nhấn mạnh “phàm đã có quốc gia tất phải có võ bị”. Do đó quy định cụ thể ngày tập cho quân đội : ngày rằm hằng tháng binh lính đến phiên thay đổi, thì chỉ lưu một số để canh giữ, còn bao nhiêu người phải tập trung tập điều lệnh.

 

Năm 1467 nhà vua lệnh cho các vệ, các ti Thần-võ, Du-nỗ, Thần-tí, Vũ-lâm và Ngũ-oai : mỗi khi quân sĩ đến phiên túc trực, đều thay đổi từng ban chuyên tập võ nghệ ; binh sĩ ở vệ Ngũ oai và các vệ ở các đạo ngoài kinh thành đều được nghỉ việc sai phái về tạp dịch, liệu định số người canh giữ, còn bao nhiêu phải chuyên tập võ nghệ, ban nào tập xong, quan sẽ duyệt lại và thưởng phạt theo lệ định. Nhà nước quy định thành lệ tất cả quân sĩ cứ 3 năm phải qua một kỳ khảo hạch về võ nghệ để kiểm tra kết quả luyện tập và động viên tinh thần luyện tập của quân sĩ : cứ đến mùa đông từng kỳ, các quan khảo xét sự giảng tập của quân thủy, quân bộ, quân thị hậu và quân ngoài các đạo ; nhân đấy định cách thức thưởng phạt : binh sĩ nào thắng luôn 4 tao, được thưởng 1 chiếc áo và 1 quan 5 tiền sử tiền. Nếu 2 tao thắng 1 tao bình, được thưởng 1 chiếc áo. Nếu 2 tao thắng, 2 tao bình thì thì được thưởng 6 tiền sử tiền. Nếu 1 tao thắng 3 tao bình thì được thưởng 3 tiền sử tiền ; nếu 4 tao đều bình thì được cấp cho tiền cơm và 20 đồng sử tiền. Ngược lại binh sĩ nào thua cũng phải phạt như thế.

 

Với tính chất thưởng phạt vật chất cụ thể, mọi binh lính đều tự giác học tập để giành thành tích cao về võ nghệ. Và từ việc tập luyện ấy, các võ sĩ, lực sĩ, dũng sĩ, tráng sĩ rất được trọng dụng. Khi xét định chế độ quân ngũ, quân kinh sư được đặt biệt chú ý, trong đó các lực sĩ được phiên vào 10 ti (mỗi ti 100 người) túc trực ở điện Kim Quang ; ở cẩm y vệ có 10 ti gồm những dũng sĩ và 18 ti gồm những tráng sĩ ; ở Kim Ngô vệ có 14 ti gồm những võ sĩ và 4 ti gồm những tráng sĩ. Như vậy chỉ số võ sĩ, lực sĩ, dũng sĩ, tráng sĩ ở 56 ti trên đã lên tới 5600 người rồi. Những người lính này được tập luyện võ nghệ đều đặn và kiểm tra sức khỏe thường xuyên. Năm 1499 vua Lê Hiến Tông sai các chỉ huy ở Cẩm y vệ quy định thưởng phạt đối với các lực sĩ, dũng sĩ, võ sĩ kiểm tra võ nghệ đạt hay không đạt. Đồng thời, nhà vua chuẩn y lời tâu của thượng thư Bộ binh lập thành lệ các lực sĩ, dũng sĩ, võ sĩ ai ốm nặng được về quê điều trị 10 ngày, khi khỏi bệnh phải làm đơn khai nộp ở bộ binh để trung quan và quan khoa đài cùng xem xét, nếu sức vóc mạnh khỏe thì được trở lại chân lực sĩ, võ sĩ, dũng sĩ ở bản vệ ti ; nếu không thì sung vào quân điện tiền. Rõ ràng những người lính này được triều đình quản lý chặt chẽ. Đến năm 1509 ngoài 1.000 lực sĩ túc trực ở điện Kim Quang lại đặt thêm ti Phi Võ gồm 100 lực sĩ túc trực ở cung Đoan Khang, bổ nhiệm Nguyễn Tông làm Đô Phi võ lực sĩ nội sứ. Năm sau (1510) đặt thêm hai vệ Thiên võ và Thánh oai (ở cấp trên vệ Cẩm y và vệ Kim ngô), mỗi vệ có 8 ti, đều túc trực ở điện Kim Quang. Số lực sĩ bảo vệ vua rất nhiều.

 

Năm 1467 Nhà nước còn sai quan văn thông thạo kinh sách đến giảng dạy việc luyện tập và đọc sách cho những bộ binh và kỵ binh có tiếng khỏe mạnh, dũng cảm.

 

Về vũ khí, trong qui chế về chiến đấu năm 1428, ta biết quân đội nhà Lê được trang bị vũ khí phòng ngự là mộc, và vũ khí tấn công gồm vũ khí đánh gần như câu liêm giáo dài, dao to và vũ khí đánh xa gồm phi liêm, thủ tiễn, nỏ mạnh và ống phun lửa nhiều cỡ. Những vũ khí ấy đều do Nhà nước độc quyền chế tạo, rồi phân phối về các đơn vị và các địa phương. Năm 1469 vua Lê Thánh Tông ra chỉ dụ cấm trong nước không ai được cất dấu đồ binh khí. Trong quân đội, nếu khí giới có hao mòn khuyết mẻ đều đem đến kho võ khí để tu tạo lại theo như quy thức, không ai được tự tiện đem đến các nơi nhà công, nhà lính ở ngoài để sửa chữa hoặc làm mới. Ai trái lệnh sẽ bị luận vào tội lưu khống chỉ vũ khí. Quân trang cũng được quy định : những thứ áo giáp mũ trụ để làm cho dung nghi quân sĩ được hùng mạnh như nón thủy ma ; nón sơn đỏ là thứ nón của thân quân đội túc trực để bảo vệ kinh thành, cấm nhân dân mua bán các thứ nón ấy.

 

 

(Còn tiếp)

 

  • Dẫn nhập
  • Giáo sư Đặng Thông Trị, vị sáng lập phong trào Aikido Việt Nam
  • Câu chuyện về Vs. Phạm Lợi
  • Tổ sư Hàn Bái Đường
  • Võ sư Ngô Quyền và việc xây dựng nền tảng lý thuyết Aikido Việt Nam
  • Thầy Năm Lắm
  • Taekwondo Việt Nam trên đấu trường Á Châu
  • Cuộc đời và võ nghiệp của cố giáo sư Hồ Cẩm Ngạc
  • Đôi dòng tự sự của võ sư Trần Tiến
  • Võ sư Quách Phước mải mê cùng võ thuật
  • Vs. Từ Thiện
  • Một tay oanh liệt vùng Tân Khánh - Bà Trà
  • Làng võ gọi người ấy là sư phụ Hoàng Kim
  • Võ sĩ Việt Nam đầu tiên đoạt huy chương vàng quốc tế
  • Làm trai cho đáng nên trai (2)
  • Binh bị Việt Nam qua các triều đại (1)
  • Binh bị Việt Nam qua các triều đại (2)
  • Binh bị Việt Nam qua các triều đại (3)
  • Binh bị Việt Nam qua các triều đại (4)
  • Hội Võ Mùa Xuân (1)
  • Hội Võ Mùa Xuân (2)
  • Hội Võ Mùa Xuân (3)
  • Lễ hội cổ truyền (1)
  • Lễ hội cổ truyền (2)
  • Lễ hội cổ truyền (3)
  • Những người phụ nữ giỏi võ trong lịch sử Việt Nam.
  • Đại lão võ sư Đào Thanh
  • NHỮNG CON RỒNG ĐÁNG KÍNH CỦA MIỀN ĐẤT VÕ
  • Những con rồng đáng kính của miền đất võ (TT)
  • VÕ SƯ PHAN TOÀN CHÂU.
  • VÕ SƯ PHAN TOÀN CHÂU. (TT)