Mai Văn Muôn
(tìm hiểu Võ thuật tập 8, 1991)
Thời Lê trung hưng vẫn giữ về cơ bản, chỉ thay đổi chi tiết : các thứ cờ xí, kiếm, kích, giáo, mộc, đao, súng, thuốc đạn đều do binh phiên cấp phát theo lệ. Các viên quản quân được cấp một thanh gươm. Các thứ binh khí không thường dùng như máy bắn đá, súng báng gỗ, súng bọc da, tên có lửa, thuốc lửa, đạn lửa, thuốc mù đều cấm chế tạo. Các viên quản binh có thể giữ một hai khẩu súng riêng, còn súng khác và cả ngựa đều không được chứa cất. Các cục làm súng đều thu hẹp, chỉ cho người các xã am hiểu được ứng dụng chế tạo. Cấm các phố phường, các dinh cư và tư nhân nuôi thợ làm súng bán riêng.
Trang phục quân đội cũng được quy định để phân biệt với dân, phân biệt quân ở kinh và quân ở các trấn. Đầu thời Lê sơ, thủy quân đội nón thủy ma và nón sơn đỏ, đời Hồng thuận chế thêm kiểu mũ đỏ có cánh phượng đỏ dát vàng cho quân hai vệ Thiên vũ, Thanh uy. Thời Lê trung hưng áo mũ quân thị hậu đều bằng gai do binh phiên phát để may, còn áo mũ của quân các trấn thì bằng da trâu sơn đỏ. Do đó, trấn thủ các xứ, và các chợ ở kinh thành đều phải nộp 100 tấm da trâu.
Mạc Đăng Dung vừa lập ra nhà Mạc năm trước thì năm sau 1528 tiến hành chấn chỉnh ngay chế độ quân đội, phỏng theo điều lệ đời Hồng Đức (1470 – 1497) xây dựng qui chế về danh hiệu các vệ, các sở, các ti, tên chức quan, số nhân viên và số quan lính trong kinh đô và ngoài các hộ thuộc năm phủ. Nhà Mạc đặt thêm vệ Hưng quốc và vệ Chiêu vũ, cùng với hai vệ Cẩm y và Kim ngô có trước thành bốn vệ, Lại chia người bổ vào các ti trong mỗi vệ, mỗi ti đặt một chỉ huy sứ, 1 chỉ huy đồng tri, 1 chỉ huy thiên sư, 10 trung hiệu, 1 thư ký, 1.100 tráng sĩ, chia làm 22 ban, Ban chia làm 5 giáp, mỗi giáp đặt một người làm giáp thủ, luân phiên vào trực.
Năm 1532 nhà Mạc cấm các xứ trong ngoài không ai được cầm giáo mác và binh khí ở đường xá. Từ đấy người buôn bán và người đi đường đều đi tay không. Như vậy binh khí thời Mạc chỉ dùng vào việc quân sự, lưu hành trong quân đội.
Do chiến tranh Mạc – Lê thường xuyên xảy ra nên võ nghệ càng được chú trọng nhiều khi phụ nữ cũng tham gia chiến trận, nhất là vợ các tướng lĩnh. Sử ghi năm 1571 Trương Trà là tướng nhà Lê đánh nhau với giặt, bị Nghĩa Sơn bắn chết, vợ Trương Trà là Trần thị cải trang làm đàn ông, ra trận đốc chiến, bắn chết được Nghĩa Sơn. Năm sau 1572, trong trận khác, Ngô Thị Ngọc Lâm là thị tì của Nguyễn Hoàng đã lập mưu dụ giết được Lập Bảo là tướng nhà Mạc. Cả sau cuộc tranh chấp Mạc – Lê, năm 1600 Phan Ngạn ngờ Văn Khuê làm phản, sai người bắt giết đi, vợ Văn Khuê là Nguyễn Thị Niên muốn báo thù chồng, bèn khuyến khích sĩ tốt, chiêu mộ người ai lấy được đầu Phan Ngạn sẽ trọng thưởng. Ngạn giận lắm, tự đốc sức thuyền chở binh lính tiến lên trước, bị trúng đạn chết.
Nhà Lê sau khi trung hưng vẫn tiếp tục chính sách quân sự thời trước. Năm 1595, trên bến Thảo Tân, đoạn sông Nhị, ở phía Nam kinh thành, mùa xuân vừa tổ chức thi Hội thì mùa thu tổ chức duyệt quân sĩ rất lớn, số quân lính có tới hơn 12 vạn, để ấn định ngạch lính, lính cũ ở trong kinh và ngoài các đạo chỉ giữ lại người khỏe, còn người già yếu thì thải bớt, năm này nhà vua cũng cho tuyển lính để bổ sung.
Trong cuộc tranh chấp Mạc – Lê, căn cứ nhà Lê ở vùng Thanh Nghệ nên cả sau đó nhà Lê chỉ lấy lính ở Thanh Nghệ, cấp cho ruộng công và ưu đãi cho chức sắc. Tiếp sang thế kỷ XVII cuộc tranh chấp Trịnh – Nguyễn càng thúc đẩy thêm mạnh việc rèn tập võ nghệ.
Quân đội thời Lê trung hưng do bắt nguồn ở Thanh Nghệ. Sau khi thắng Mạc rồi được giữ lại đóng ở Kinh đô để bảo vệ Hoàng thành, còn lính ở các trấn chỉ có ngạch thôi, khi có việc mới tập họp, xong việc lại về làm ruộng. Năm 1721 chúa Trịnh định lại ngạch lính cả Thanh Nghệ và bốn trấn đều chọn 5 suất đinh lấy một người, phải kén người mạnh khỏe.
Lính mới tuyển ở các địa phương, về sau theo lời bàn của Nguyễn Công Hãng, đầu năm 1724 tập trung về Kinh thành để luyện tập và thao diễn. Cuộc duyệt binh lần này có hơn vạn lính mới tuyển hàng ngũ tề chỉnh, được chúa Trịnh ban thưởng. Từ đây thành lệ, tháng 2 hàng năm đều cử hành lễ đại duyệt binh trọng thể với nghi thức chúa Trịnh thống suất quan quân các doanh, trang bị đầy đủ nhung phục và khí giới, đặt đàn tràng cáo tế ở lầu ngũ long, chiếu theo phương thức mở cờ, bắn sáng làm chấn động dung nghi quân sĩ.
Quân lính từ năm 1722 ngoài quyền lợi vật chất và tập luyện võ nghệ, người nào thông hiểu nghĩa lý văn chương còn được tính phép cùng các sĩ tử thi hương, nếu gặp kỳ thi viết chữ, tính toán và khoa thi võ cũng được phép thi khảo ở ngay kinh đô.
Năm 1740 Triều đình hạ lệnh : Phàm người nào có mưu lược, biết võ khỏe mạnh, có thể dùng vào việc cầm quân thì không câu nệ về tư cách phẩm trật, được đề cử tên từng người để Triều đình sẽ theo tài năng bổ sung. Đồng thời con cháu của bầy tôi có công người nào có sức mạnh, chiến đấu khỏe, sẽ cấp cho lương bổng rồi cho đi quân thứ.
Cũng năm ấy, Nhà nước còn kén thêm binh thủy, chọn những người khỏe mạnh ở Sơn Nam, Sơn Tây và Kinh Bắc cho thuộc vào đội ngũ lính thủy và cấp cho thuyền công, mỗi thuyền 10 người, lại cho ưu binh Thanh Nghệ xen vào hướng dẫn, để thao diễn luyện tập quân thường trực đã nhiều, nhưng vì phải đánh dẹp luôn ở các nơi nên vẫn không đủ lính để điều khiển. Cùng năm 1740, còn hạ lệnh kén hương binh, chia thành đội ngũ luyện tập, khi cần sẽ trưng dụng.
Những quan lại cao cấp còn có cận vệ giỏi võ. Chẳng hạn Nguyễn Khản là một đại thần, trong đám thủ hạ có một người Bắc quốc vốn giỏi thuật đánh kiếm. Năm 1784 khi kiêu binh vây dinh của Khản, y thấy động liền tuốt gươm ra cửa chặn đánh, chém và làm bị thương nhiều người. Bọn kiêu binh cũng giỏi võ, kéo đến, chém người Bắc quốc thành đống thịt vụn nát như bùn, rồi kéo vào dinh Khản, phá nhà cửa.
Nhà Tây Sơn lập nghiệp từ trong khởi nghĩa nông dân chống cả chúa Nguyễn và chúa Trịnh, lại đánh tan cả xâm lược Xiêm và Thanh. Bộ chỉ huy nghĩa quân khi nắm được quyền binh ở Triều đình vẫn giữ được tất cả những gì tích cực, quân đội Tây Sơn là đội nghĩa quân thạo võ nghệ và kỷ luật chặt chẽ.
Theo qui chế quân sự nhà Lê, quân đội gồm có 5 đạo quân, giờ đây vua Quang Trung tổ chức thêm những đội quân đặc biệt gọi là Tả bật, Hữu bật, Ngũ chế, Càn thanh, Thiên cán, Thiên trường, Hổ đôn, Hổ hầu, Thị Lân, Thị Loan, mỗi quân gồm năm bậc là sư-lữ-tốt-lượng-ngũ như xưa, ở các phủ, huyện thì quân đội chia từng đạo cơ và đội, đạo thống cơ, cơ thống đội, Triều vua Thái Đức, Nguyễn Nhạc mộ lính, sang triều Quang Trung Nguyễn Huệ tuyển lính theo chính sách chung.
Mai Văn Muôn