Mai Văn Muôn
(tìm hiểu võ thuật tập 11, 1991)
Năm 1881, định lại phép thao diễn trận ngựa: cưỡi ngựa đeo thêm súng dài hoặc 1 cái dao chuôi khi lâm trận dùng để bắn và đâm, để bù vào sức gươm không tới.
Rõ ràng tập trận ngựa và thao diễn trận ngựa là môn võ nghệ tổng hợp công phu, lại phối hợp diễn ra theo trận đồ, và nâng từ kỹ thuật võ nghệ lên trình độ nghệ thuật võ thuật.
Lại còn diễn tập tổng hợp nhiều binh chủng. Năm 1849 võ ban tâu bày công việc về binh kinh thao diễn: Hàng năm, đến tháng giêng, sau khi biền binh đã họp đông đủ, chiếu lệ thao diễn: vệ thần cơ và pháo thủ mỗi vệ 100 người diễn tập bắn súng lớn; vệ kinh tượng viện Thượng Tứ đúng kỳ hạn phải thao diễn trận voi, trận ngựa. Ngoài ra doanh Vũ Lâm hai dực tả hữu, các doanh thần cơ, tiền phong, long vũ, hổ uy, hùng nhuệ, kỷ vũ và các bảo, đều do viên Thống chưởng các doanh ấy điều chỉnh sổ lính ở bản trên, sức sai viên cai quản thay nhau đến giáo trường thao diễn phép bắn súng, phép bày trận. Lại bất kỳ tập về việc chèo chở thuyền đi chậm đi nhanh. Biến binh các doanh thủy sư cũng do viên Thống chưởng các doanh chiếu lệ sức sai thao diễn, lại tới bờ nam sông Hương gần đấy tập về bắn súng nhỏ súng lờn và phép ngồi, đứng, đi, dừng, khiến cho biết phương pháp đánh ở trên bộ. Tựu trung những biền binh coi giữ phần đồn biển và ở lại canh trại, xưởng cũng đều phải thay đổi nhau diễn tập. Các viên Thống chưởng đều phải thường kỳ đốc sức, sao cho đều quen, thạo cả.
Công việc thao diễn để luyện rèn quân đội tinh thông võ nghệ được đặt ra rất nghiêm túc. Tự Đức chuẩn duyệt tâu trình rồi giao bộ binh thi hành: cứ đến cuối tháng xuân, viên Thống chưởng phải lần lượt đích thân đến kiểm điểm đốc suất biền binh cho cả toàn tiêu, đem đến giáo trường thao diễn một lần. Rồi đem chức hàm họ tên người quản suất, số mục biền binh ấy, cùng là có am tường kỷ luật hay không. Đã quen thạo kỹ nghệ hay chưa, cứ thực tư bộ để lưu chiểu.
Cuộc diễn tập năm 1867 do vua Tự Đức trực tiếp xem duyệt, là cả một cuộc diễn xướng theo 6 trận đồ: trận nhất tự tràng xà, trận nhị nghi kiêm tam tài, trận nhị nghi kiêm tam tài phân suất sao, trận nhị nghi kiêm tam tài nhi bố tả hữu, trận tứ tượng kiêm ngũ hành, trận nhất tự chỉnh hàng ngũ. Chia cho các vệ cơ ở kinh và tỉnh ngoài tuân theo thao diễn. Lại chia làm 5 đồn thay nhau diễn tập: Cẩm y, Vũ lâm, Cẩm binh các bảo đều một đồn, kỳ võ, võ sinh, tuyển phong hợp thành một đồn, vì quân lính sai phái đi nhiều số lính hiện tại hơn 2.000 người, chọn lấy mỗi đồn 350 người, hợp cả 5 đạo là 1.750, cho mỗi đạo 2 con voi, 10 con ngựa, số 10 con voi và 50 con ngựa ấy quân theo voi 106 người, quân theo ngựa 153 người, hợp cộng hơn 2.000 người một đạo ra đánh thì bắn trống không một phát súng quá sơn và 5 phát súng điểu sang. Vua thân duyệt, thấy quân sĩ tập quen, thưởng cho Thống chưởng quản suất và đường quan bộ binh kim tiền, ngân tiền có bạc. Quân lính cũng đều được thưởng mỗi người 5 tiền. Sai các Thống chưởng trở xuống phải nhớ kỹ để thường thường dạy quân lính tập chớ quên.
Trong nhiều cuộc diễn tập có đâm và bắn bù nhìn rơm. Năm 1866 định rõ phép sát hạch bắn bù nhìn, bắn 3 phát, lấy bắn tin vào bụng, đầu, mắt làm trúng đích, còn lại là trúng khuyên tròn, không cắm vào là bắn ra ngoài bù nhìn. Cả 3 phát tin vào khuyên tròn trở lên là hạng ưu, 1 phát tin đích 1 phát tin khuyên 1 phát ra ngoài hoặc 2 phát tin đích 1 phát ra ngoài là hạng bình, 1 phát tin đích 2 phát ra ngoài hoặc 2 phát tin khuyên 1 phát ra ngoài là hạng thứ, không được thế là hạng liệt.
Binh lính nhà Nguyễn, nhất là biền binh đóng ở kinh đô, đặc biệt các hạng lính giáo dưỡng và tuyển phong, kỵ mã và tượng binh được tập võ nghệ chu đáo, thao diễn trận đồ thường xuyên. Để có kiến thức võ toàn diện, năm 1861 nhân chuẩn bị chương trình thi hội võ và thi đình võ tổ chức khai khoa vào năm 1865, nhà nước đã cho in nhiều sách võ kinh ban phát cho võ sinh học tập để có người tài năng sức lực, biết rõ đường lối, người thành đạt ngày một nhiều. Tự Đức từng nói: “Quan võ mà học kỹ sách cũ, cũng có thể cộng thêm tri thức, cho nên cổ nhân muốn cho quan võ đọc sách, là bởi cớ đó. Nay nên khiến người ta dự bị học tập thế nào, định kỳ hạn trước, đều cho tùy sức được đến đâu hay đến đấy, cũng không bắt ép”.
Võ sinh được học võ có bài bản, cả lý thuyết và thực hành, lại cả lý luận có tính chiến lược và chíến thuật, chẳng những quân lính học trong kỷ luật quân ngũ mà nhân dân những người yêu thích võ cũng có thể đăng ký với quan sở tại để được hằng năm tập trung ôn luyện và dự khảo hạch chuẩn bị cho thi võ.
Để đề cao trách nhiệm của những người dạy võ (và những người tổ chức cho đoàn võ sinh của địa phương mình đi thi) như quy định của năm 1866 khi mở Trường võ học ở kinh có phần thưởng phạt học quan tùy theo chất lượng đào tạo. Năm 1873 nhà nước quy định cụ thể mức thưởng phạt : các võ sinh học tại trường của nhà nước tại kinh, hay võ Biền binh ở kinh và các tỉnh ngoài vào thi ai mang nặng không được 2 trượng trở xuống, có 1 người thì Học quan trực tiếp giảng dạy và Quản suất đều bị phạt bổng 1 năm; các quan tỉnh, đạo dự sát hạch và Thượng ti thống lãnh đều bị phạt bổng 9 tháng. Nếu có 2 người thì Học quan và Quản suất bị giáng cấp; còn quan tỉnh, đạo và Thượng ti thống lãnh đều bị phạt bổng 1 năm. Nếu có 4 người trở lên thì Học quan và Quản suất đều bị giáng 2 cấp, quan tỉnh, đạo và Thượng ti thống lãnh đều bị giáng 1 cấp.
Ngược lại nếu trong các kỳ thi Hương và thi Hội, đơn vị có người dự thi đỗ, thì viên Học quan đã tại chức từ 1 năm trở lên đều được chiểu theo số đỗ nhiều hay ít mà chia hạng nghị thưởng. Về thi Hương, cứ 10 người mà có 2-3 người đỗ võ cử, thì Học quan và Quản suất đều được thưởng kỷ lục 1 thứ, những viên dự sát hạch thì không được nghị thưởng; nếu đỗ 4-5 người thì Học quan và Quản suất đều được thưởng kỷ lục 2 thứ, quan tỉnh, đạo và Thượng ti thống lãnh đều được thưởng kỷ lục 1 thứ, nếu đỗ 6-7 người trở lên thì Học quan và Quản suất được thưởng gia 1 cấp, quan tỉnh, đạo và Thượng ti thống lãnh đều được thưởng kỷ lục 2 thứ. Về thi Hội, các người không phải là mới đỗ võ cử, sung vào học tập ở học đường, cứ 10 người có 1 người đỗ tiến sĩ thì Học quan được thưởng kỷ lục 1 thứ, đỗ 2-3 người thì được thưởng kỷ lục 2 thứ, đỗ 4 người trở lên thì được thưởng gia 1 cấp. Ngược lại sẽ bị phạt: về thi Hương, cứ 10 người trở lên dự thi mà không có người đỗ thì Học quan và Quản suất tại chức 1 năm trở xuống đều bị phạt bổng 6 tháng, các quan tỉnh, đạo và Thượng ti thống lãnh đều bị phạt bổng 6 tháng; còn tại chức 1 năm rưỡi và 2 năm đều bị phạt gia thêm 1 bậc; từ 3 năm trở lên thì Học quan và Quản suất đều bị giáng 2 cấp, các quan tỉnh, đạo và Thượng ti thống lãnh đều bị giáng 1 cấp.
Về thi Hội, từ 10 người trở lên dự thi mà không có người đỗ, thì Học quan tại chức 1 năm bị phạt bổng 3 tháng; tại chức 1 năm rưỡi và 2 năm đều phạt gia lên 1 bậc, tại chức 3 năm trở lên thì phạt bổng 1 năm. Từ 20 người trở lên dự thi mà không có người nào đỗ thì Học quan tại chức 1 năm phải phạt lương 6 tháng, tại chức 1 năm trở lên thì giáng 1 cấp. Những viên dự có sát hạch cũng chiểu niên hạn xử tội giảm 1 bậc, ví dụ Học quan và Quản suất phải phạt bổng 6 tháng thì quan tỉnh, đạo và Thượng ti thống lãnh giảm 1 bậc sẽ bị phạt bổng 3 tháng, cứ theo thế mà suy ra. Hạng dân nào, thi thì việc Thượng ti dự sát hạch đáng được thưởng phạt, chiểu theo viên vẫn huấn luyện, nghĩ xử rút đi 1 nửa, có các vết kém, 1 người thì các viên dự sát hạch đều bị phạt bổng 6 tháng, có 2 người thì phạt bổng 1 năm, có 4 người trở lên thì đều bị phạt giáng 1 cấp. Đi thi thì từ 9 người trở xuống dự không có người đỗ thì không phải bàn đến, còn từ 10 người trở lên đi thi đỗ Võ cử chỉ có 2-3 người thì Thượng ti dự có sát hạch không phải bàn thưởng, dễ 4-5 người thì thưởng kỷ lục 1 thứ, đỗ đến 6-7 người trở lên thì thưởng kỷ lục 2 thứ.
Với quy định trên, tất cả mọi người liên quan đến nhân sự trước hết là Thầy dạy võ, rồi đến những người dự khảo hạch và thi đều có liên đới trách nhiệm với nhau, do đó mọi người từ võ sinh đến Thầy dạy, người theo dõi và các người tổ chức đưa đi thi đều phải cố gắng ở mức cao nhất.
Mai Văn Muôn