Binh bị Việt Nam qua các triều đại (1)

26-12-2007 14:30

 

 

Mai Văn Muôn

(tìm hiểu võ thuật tập 11, 1991)

 

LUYỆN VÕ VÀ THI VÕ DƯỚI THỜI TRỊNH NGUYỄN

 

Cùng với các cách tập luyện võ nghệ của quân đội được phản ánh trong sử sách, trên “thao trường” nhất là khu Giảng Võ của thời Lê, đã đào được nhiều vũ khí là bằng chứng vật chất và hoạt động tập luyện của quân đội thời Lê. Riêng trong khu hồ Ngọc Khánh thuộc phường Giảng Võ (Ba Đình – Hà Nội) chỉ đợt đào đất năm 1983 đã phát hiện một bộ sưu tập vũ khí gồm cả hỏa khí và bạch khí, trong bạch khí có cả vũ khí đánh xa và vũ khí đánh gần, vũ khí phòng ngự. Hỏa khí là những vũ khí hoạt động do sức đẩy của thuốc nổ, ở đây tìm được một khẩu súng lệnh bằng sắt và 27 viên đạn đá kích thước khác nhau. Trực tiếp liên quan với võ thuật là bạch khí hoạt động do sức cơ bắp của con người. Trong nhóm vũ khí đánh xa có 7 ngọn lao hai ngạnh có họng tra cán dài và năm ngọn lao một ngạnh có chuôi tra cán, cán lao tương đối ngắn, chiến binh có thể dùng tay phóng cây lao đi xa để sát thương đối phương ở cự ly khoảng từ 10m – 30m. Ngoài ra còn tìm được nhiều mũi tên sắt dính bết nhau do rỉ sắt gắn kết lại, thân mũi tên hình thoi dẹt hoặc chuyển thành lá úa. Những mũi tên này bắn bằng cung hay nỏ sẽ đi rất xa và khá chuẩn. Nhóm vũ khí đánh gần và cũng để tùy thân, gồm 6 chiếc mũi giáo hình búp đa có họng tra cán dài gọi là giáo trường và 4 chiếc mũi giáo hình lá úa có chuôi tra cán, lại có 5 mũi đồng nhọn, 1 chiếc đinh ba, một chiếc bát xà mâu, 1 kiếm dài, 1 kiếm ngắn và 1 dao găm. Những di vật này đã xác định tính chất thao trường của khu Giảng Võ, việc binh lính và tướng võ tập luyện các môn võ nghệ và thao diễn ở đây là hoàn toàn chân thực. Trong cuốn sách “Lịch sử Vương quốc Đàng ngoài” (histoire du royaume de Tonquin) năm 1651 của Alexandre De Rhodes; đã ghi nhận quân đội nhà Lê - Trịnh thường tập bắn hay đấu vật mỗi tháng hai lần trước mặt vua. Quân đội Đàng trong cũng được chúa Nguyễn Phúc Tần cho tập kéo co và đánh vật.

              
 

Nhờ tập luyện thường xuyên và không ngừng, quân đội thời Lê được truyền thuyết và người nước ngoài ca ngợi không tiếc lời. Chẳng hạn về môn bắn súng hỏa mai rất ít phổ biến, De Rhodes trong cuốn sách trên có kể một trường hợp lý thú : một người Bồ Đào Nha bắn súng khá giỏi đã nhận lời thách đấu với một người lính Đàng Ngoài. Người lính Đàng Ngoài bắn trước và viên đạn đã xuyên thủng chính giữa hồng tâm. Người Bồ Đào Nha biết không thể thắng, để cứu vớt danh dự đã bắn một viên đạn không đầu và nói là đầu đạn đã chui qua lỗ viên đạn trước.

 

Vẫn chuyện thi bắn súng, chúng ta có thêm giai thoại “Tết năm 1895 sau khi biết tài Cả Trọng (con cụ Đề Thám) và Cả Dinh (con cụ Đề Sử) bắn súng xuyên thủng 7 cái đít chai xếp nằm đặt cách xa 100m; nhân dịp đình chiến với nghĩa quân Yên Thế, tên đại úy Pháp ở đồn Cao Thượng (Hà Bắc) mang lính đến doanh trại cụ Đề Thám chúc tất cả và bày trò thi bắn súng. Lính Pháp vẽ một vòng tròn đường kính 3cm trên tấm bảng cách xa 100m, mỗi người bắn 3 phát trong số 10 người chỉ có vài tên bắn trúng. Đến lượt nghĩa quân Cả Trọng, Cả Dinh, Cả Huỳnh (con cụ Chánh Tả, một chỉ huy nghĩa quân) cùng 7 chiến sĩ chia thành hai hàng để cụ Đề Thám đi giữa. Mười tên lính Pháp, mỗi tên tung 3 dồng bạc hoa xòe phía trên đầu cụ Đề, lập tức mười nghĩa quân đưa súng lục bắn tan tất cả những đồng bạc trắng, sau đó lại lấy nỏ bắn mười mũi tên làm chết 10 con trong đàn chim sẻ đậu trên cành cây cao”.

 

Đúng là bắn cung nỏ là sở trường của quân lính Việt Nam. Thám hoa nhà Lê là Đinh Lưu chẳng những giỏi văn, còn giỏi đá cầu, cưỡi ngựa và bắn cung. Tung nắm tiền xuống đất, ông vừa cưỡi ngựa vừa cúi xuống nhặt tiền không thiếu một đồng nào.

 

Nhà buôn Samuel Baron trong cuốn Địa chí vương quốc Đàng Ngoài (Description du royaume de Tonquin) viết năm 1863 đã nhận xét tài bắn của quân lính nhà Lê : “binh sĩ của họ là những người bắn giỏi, tôi nghĩ rằng họ ít thua kém ai, họ vượt xa nhiều nước khác trong việc sử dụng khéo léo súng hỏa mai và bắn nhanh. Họ ít dùng súng, thường dùng cung tên và họ sử dụng cung tên lại càng tài giỏi”.

 

De Rhodes trong cuốn “Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài” còn nhận xét rằng quân sĩ nhà Lê thường tập đánh trận và đánh vật, nhà vua thường cùng tùy tùng đi xem quân lính đánh vật.

 

Trong khi đó, ở Đàng Trong, Koffler ở cuốn sách “Miêu tả lịch sử xứ Đàng Trong” còn cho biết quân lính của chúa Nguyễn rất giỏi bắn cung, phóng lao và bơi thuyền. Những thuyền nhiều mái chèo bơi nhịp nhàng theo hiệu lệnh của người gõ phách.

 

Về thuyền phải nói đến binh lính Đàng Ngoài. Năm 1688 sứ nhà Thanh là Chu Xun sang ta, nhận thấy thuyền của ta chế rất tinh xảo, chắc chắn, chân sào ăn mặc mạnh mẽ, tiến lui có nhịp. Vua Lê và Chúa Trịnh đều thích xem đua thuyền; De Rhodes vẫn trong cuốn sách kể trên còn cho biết về lệ đua thuyền của quân lính : “Những người chèo thuyền, chèo khéo và nhanh đến mức là thường những thuyền đó đi thành hàng ngang từ ba, năm đến bảy chiếc, không có chiếc nào đi quá chiếc nào một bộ (0.324m) và nếu như phải dừng lại, lượn quanh, đi xiên ngang lùi lại, thì tất cả những chiếc thuyền đó như là một chiếc và do một sự vận động thúc đẩy mà cũng làm rất nhịp nhàng và đều đặn”.

 

Chúa Trịnh rất thích tổ chức cho quân đội mở những hội mang tính thượng võ. Giáo sĩ Ban-đi-nốt-ti người Ý đến Đàng Ngoài truyền giáo, trong thư đề ngày 12-12-1626 tại Ma Cao với nhan đề Tường thuật về vương quốc Đàng Ngoài đất mới phát hiện được (Relation du royaume de Tonquin, nouvellement découvert) đã viết : “Nhà vua (tức Chúa Trịnh) thường mời chúng tôi đi xem những hội hè của Người, đấy là những cuộc đấu voi, đua ngựa và đua thuyền. Nhà vua thường cưỡi một con voi rất lớn đuổi theo những người lính, con voi đó dùng vòi giật lấy những ngọn giáo mác và những vũ khí khác để dâng lên cho nhà vua. Những con ngựa cũng làm như thế, hất từ dưới đất lên những ngọn giáo để chuyển cho những kỵ mã… Nhà vua trọng võ luôn tập cưỡi ngựa, voi và bắn cung. Người rất thích bắt những thuyền phải bơi đi bơi lại theo nhiều cách, theo nhịp điệu của những nhạc cụ gõ, như là bắt các thuyền phải múa vậy… Nhà vua có 4000 thuyền, mỗi thuyền có 26 người chèo ở mỗi bên, người dân ở đây rất thích nghề binh, đặc biệt họ bắn súng thần công và súng ta rất giỏi. Da họ trắng, tầm người cao, nhanh nhẹn và can đảm”.

 

Lính tập võ, nhất là những dòng dõi nhà võ. J.B. Tavernier (1605 – 1689) trong bản Tường thuật mới mẽ và độc đáo về vương quốc Đàng Ngoài (Relation nouvelle et singulière du Royaume de Tonquin) cho biết con các quan võ được học tập nghề võ từ rất sớm, khoảng 11 hay 12 tuổi. Đầu tiên phải học múa gươm, sau đó học bắn cung, bắn nỏ và tập cưỡi ngựa. Phải vừa phi ngựa vừa bắn cung. Cũng phải học phóng lao. Sau khi đã thành thạo các môn đó, võ sinh phải học chế các loại thuốc súng, pháo hoa để chống voi, làm cho voi hoảng sợ, làm rối loạn đội ngũ đối phương khi chiến đấu. Như vậy với nhiều nguồn tài liệu trong nước và ngoài nước, đặc biệt của những người đã chứng kiến cảnh tập võ đương thời, chúng ta thấy trong võ học Việt Nam xưa có chương trình khá hoàn chỉnh và tiến hành một cách bài bản cả về lý thuyết và thực hành. Sau khi thắng nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn tỏ ra nặng về võ ban, cử các võ tướng Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành phụ trách Gia Định thành và Bắc thành là những vùng rộng lớn và quan trọng của đất nước. Để có lực lượng võ bị chính quy, võ học cũng sớm được chăm sóc, trước hết là việc dạy võ cho quân đội. Rồi, mở trường dạy võ, luyện tập cả các môn võ nghệ và trận đồ, rồi in sách võ kinh cho các võ sinh học.

 

(Còn tiếp)