Tham quan lăng tẩm ở cố đô Huế

05-06-2007 15:10
Lâm Đăng Khoa
 
 
Vào buổi sáng thứ ba của chuyến đi tham quan các thắng cảnh ở Huế, tôi đã dậy rất sớm – 4h30. Có lẽ một phần vì những háo hức trước một chuyến đi chơi thuyền trên con sông Hương nổi tiếng sắp tới – mà tôi từng tưởng tượng là sẽ hết sức thú vị, cộng với trách nhiệm đôn đốc anh em trong đoàn chuẩn bị cho kịp giờ mà thầy Cần đã có hẹn với giáo sư Tăng Kim Tây vào lúc 7h30. Tôi nhanh chóng rửa mặt và đánh thức các anh em trong đoàn còn đang ngái ngủ vì những ngày vui vẻ liên tiếp vừa qua.
 

Sau bữa ăn sáng vội vàng, chúng tôi mau chóng đến bến thuyền rồng ở chân cầu Phú Xuân thì đã thấy GS. Tăng Kim Tây chờ sẵn. Mọi người vui vẻ hăng hái xuống thuyền và một ngày mà mọi người mong đợi nhất bắt đầu. Nắng nhẹ của buổi ban mai và gió hây hây thổi đến khi chiếc thuyền chuyển mình tách bến khiến mọi người đều cảm giác dễ chịu. Các bạn trẻ tranh nhau ra trước mũi thuyền hóng gió và tò mò quan sát nhìn ngó khắp hướng. Ngược dòng sông Hương chúng tôi lần lượt đi qua Phú Văn Lâu, chui qua cầu Bạch Hổ rồi chùa Linh Mụ, Văn Miếu… nhắm ngã ba thượng nguồn sông Hương trực chỉ. Trên đường đi chúng tôi được quan sát một phương pháp khai thác cát thủ công của những người dân địa phương khá độc đáo so với trong miền Nam. Phương tiện khai thác gồm một chiếc ghe chứa được khoảng 3-4 m3 cát, hai người thay nhau điều khiển gàu xúc cát gắn vào một cái sào dài, ba người còn lại dùng cả tay và chân hết sức quay để kéo cho được gàu cát lên khỏi mặt nước. Có lẽ phương pháp này đã được lưu truyền từ xa xưa nhờ vào lòng sông cạn của mùa hè. Ngoài ra, về phía trên thượng nguồn cũng có các phương pháp khai thác đá sỏi, sạn bằng thủ công sàng sẩy hoặc bằng xà lan có gàu xúc băng chuyền. Có thể nhìn thấy ở trong những công việc này tất cả sự mộc mạc, trầm lắng đặc thù của miền Trung đất Việt chúng ta mà có lẽ ở hai miền Nam, Bắc không có.
 



 
Khoảng 11 giờ trưa, thuyền chúng tôi cặp vào bờ để tất cả đi đường bộ vào lăng Gia Long. Từ bờ sông vào đến lăng ước khoảng 4 km. Để tranh thủ thời gian vì GS. Tăng Kim Tây còn phải quay về Sài Gòn khi xế chiều, tất cả đoàn di chuyển bằng xe gắn máy thồ hai người một chiếc. Lăng Gia Long có vị trí ở khá xa khu dân cư một chút, tuy không có đồi núi cao nhưng hội đủ các điều kiện địa lý phong thuỷ. Về mặt này – khác hẳn với tất cả các lăng khác, chỉ ứng dụng thuật phong thuỷ bên trong phạm vi tường rào của lăng – Gia Long đã chọn địa thế sông núi thiên nhiên bên ngoài lăng một cách rất “bài bản”. Và dường như tuân theo một qui định trật tự có sắp xếp nào đó, thể hiện rõ từ thượng nguồn đổ về xuôi, lăng của các triều đại nhà Nguyễn cứ theo thứ tự Gia Long rồi đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, ... cuối cùng gần nhất là lăng Khải Định, đồng thời, có vẻ như hướng của các lăng đều chầu về phía Gia Long, vị vua đã sáng lập nên triều đại nhà Nguyễn, như là một biểu hiện “uống nước nhớ nguồn” theo truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt.

Lăng Gia Long hiện nay là lăng điêu tàn nhất trong tất cả các lăng tẩm triều đại nhà Nguyễn, thật đáng buồn. “Càng trông cảnh vật càng đau lòng người”. “Kiếp nhân sinh” qua đây lại càng thêm thấm thía. Vì sao người ta lại để một di tích mang tính lịch sử quan trọng như thế trở thành hoang phế đến độ đau lòng? Vì có quá ít du khách chăng? Hay vì thiếu kinh phí, hoặc vì đã chấp nhận một định kiến nào đó chăng? Thiết nghĩ bất kỳ lý do nào, để cho ra nông nỗi như thế cũng là điều tệ hại khó có thể chấp nhận được. Những ngày trước, khi trông  thấy sự đổ nát của Đại Nội Huế so với nguyên mẫu cũ đã thấy đau lòng, nay nhìn thấy sự hoang tàn của lăng Gia Long càng thêm xót dạ:

   “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.”

Chúng tôi đã rời lăng Gia Long với tấm lòng bùi ngùi, với bao niềm bâng khuâng, nuối tiếc.

Theo đường cũ quay về thuyền, xuôi theo dòng chúng tôi trở lại ngã ba sông và tạm chia tay GS. Tăng Kim Tây với bao niềm kính mến, sau đó chúng tôi rẽ qua lăng Minh Mạng. Minh Mạng là một trong những vị vua tài giỏi và có nhiều công trạng đối với đất nước. Là một thời thịnh trị nên lăng của ngài thể hiện rất bề thế và là một trong những lăng đẹp nhất và thơ mộng nhất. Chúng tôi rất ưa chuộng phong cảnh nơi đây và đã hạ trại ngay tại khu vực có khung cảnh hữu tình nhất của lăng này. Dùng bữa trưa, ngủ nghê, đùa giỡn cho đến khi đã dịu nắng mới rời lăng với bao niềm luyến lưu.
 
Lại tiếp tục xuôi theo dòng, chúng ghé vào chùa Linh Mụ tham quan, chụp hình lưu niệm thật vui vẻ. Chùa không đẹp lộng lẫy nhưng có nét rất riêng, rất duyên dáng dễ mến. Sân trong, trước mặt chùa, sau cổng tam quan tạo được cảm giác thanh thản rất dể chịu đối với những người có tâm hồn mộ đạo. Và nổi bật nhất vẫn là tháp Phước Duyên, tuy mộc mạc giản đơn nhưng vẫn có nét độc đáo riêng biệt khó tả, người ta có thể nhìn ngắm lâu mà không chán mắt, càng nhìn ngắm càng thấy trỗi lên một tình cảm nhẹ nhàng sâu lắng. Cơn mưa bất chợt buổi chiều; làm dịu đi cái không khí hầm nóng của buổi trưa hè, như muốn rửa sạch thêm bao bụi hồng trần cho chùa, cho tháp.Và cuối cùng thì ngày cũng qua đi, thuyền trôi trên sông có nắng trong vàng và gió lộng mát. Hầu như đa số các thanh niên trẻ trong đoàn đã thấm mệt do chưa có phương pháp để tiết kiệm sức. Chúng tôi về lại thành phố Huế, bỏ qua Văn Miếu – điều tôi thấy hối tiếc vì tôi vẫn thường ao ước tận mắt nhìn thấy những bia tiến sĩ của bao thế hệ cha ông, để thấy rõ hơn sự trọng vọng nhân tài đất nước của các bậc tổ tiên ngày trước.

Kết thúc một ngày tham quan quá vui vẻ, đầy hào hứng, thú vị cũng là kết thúc một chuyến đi tuy ngắn ngày nhưng sôi động và vô cùng bổ ích. Giải tỏa nơi tôi nổi âm ỉ khát khao trong lòng đã gần nửa thế kỷ.

Đối với riêng tôi, chuyến đi với thầy và với các bạn trong Tenryu Aikido có thể nói là một thoả mãn hoàn toàn, học hỏi thêm được nhiều điều bổ ích ngoài dự kiến. Rất cám ơn thầy, rất cám ơn các bạn và cám ơn cả tổ tiên đã cho tôi những tháng ngày hạnh phúc hiếm hoi trong cuộc đời.

      Lâm Đăng Khoa