Phương Văn
Họ đã vui vẻ tiếp nhận sự huấn giảng của thầy Nguyễn Đắc Trí. Các anh Minh, Chung tâm sự là các anh học được ở thầy Trí nhiều điều mới lạ, phong cách khác hẳn thầy Thanh. Họ công nhận là “đúng là bể học Aikido là vô biên, biến hóa vô lường”. Họ cũng rất khâm phục thầy Trí về công phu tự luyện và tính kiên trì của thầy trong suốt một thời gian trai trẻ, phải vượt qua muôn vàn khó khăn trong cuộc sống khi mới bước vào đời. Với trách nhiệm của người học trò với thầy Lê Viết Đắc, của bạn đồng liêu với thầy Võ Đình Thanh và với đàn em đi sau với môn phái, thầy Nguyễn Đắc Trí vui vẻ và sẵn sàng gánh nhận trách nhiệm của một người thầy, một người lãnh đạo đáng kính của Aikido Huế đúng lúc cần thiết.
Bài học về sự ứng xử đầy Hiệp Khí của các Huấn luyện viên thế hệ trước của thầy Thanh, thầy Trí, thầy Ngọc, cô Thư, thầy Hào vì Hiệp Khí Đạo đã góp phần giúp các huấn luyện viên đương đại học tập và hình thành tạo cho họ phong cách làm việc có thể nói có tinh thần chuyên nghiệp cao. Cho dù có sự thay đổi về vai trò lãnh đạo của một cá nhân, việc chuyển giao “trách nhiệm” và “quyền”, được tiến hành bài bản và nhẹ nhàng. Mặc dù chuyện trục trặc do chưa hiểu ý nhau trong họat động hoặc ý kiến khác nhau thỉnh thoảng vẫn xảy ra, nhưng mọi người vẫn lấy tinh thần chung và mục đích phát triển Aikido Huế làm trọng, nên họat động quản lý, phát triển cả hệ thống Aikido Huế vẫn diễn ra một cách khá trơn tru. Aikido Huế vẫn luôn trên đường phát triển trên một vị thế mới, giai đoạn mới.
Cái nhìn về hệ thống giáo dục Aikido
Trong suốt thời gian qua, qua việc được tham nhiều buổi trò chuyện, thảo luận với các thành viên Hội đồng Huyền đai, tôi nhận thấy các anh có rất nhiều quan tâm đến sự trách nhiệm của mình cũng như định vị và đường hướng phát triển của Aikido Huế trong xã hội. Theo các anh, thế hệ Huấn Luyện Viên Aikido đương đại của Huế phải đảm nhiệm một nhiệm vụ lớn là duy trì phát triển Aikido Huế và Aikido Việt, hệ thống hóa và tài liệu hóa các kinh nghiệm huấn luyện, quản lý đạo đường, chuẩn bị cho sự đào tạo phát triển của hệ thống Aikido Huế và Aikido Việt Nam.
 |
| Ảnh: Bốn HLV kì cựu của Aikido Huế từ trái sang: HLV Đoàn Văn Minh, Nguyễn Đức Thuận, Văn Đức Chung, Võ Văn Quang Huy năm 2001. |
Với họ đai đẳng kỹ thuật Aikido là chuyện quan trọng, tối thiết để gọi là huyền đai Aikido. Tuy nhiên với nhu cầu xây dựng và phát triển Aikido thì chừng đó không đủ, mà phải xây dựng hệ thống giáo dục Aikido, như một đạo đường ở đó ngôi trường sẽ giúp người ta đến rèn luyện, tu dưỡng đạo lý, theo triết lý và phương pháp Aikido. Cho tới thế hệ của họ, Aikido Huế chưa thực sự có một đạo đường đúng nghĩa, mà có chăng chỉ là con đường (phương pháp, cách thức) để dẫn đạo mà thôi. Anh Minh ví von “Cứ nhìn đạo Phật đó thôi, cứ nói là Phật tại tâm, mỗi người tự tu thành Phật được. Nhưng vẫn phải có chùa, có chùa thầy dễ giữ lễ, mà trò khó quên tu tập”.
Thời Thầy Lê Viết Đắc, chỉ trong mấy năm đầu, đạo đường vừa phải mượn sân, vừa phải dọn đi chỗ này chỗ khác vài ba lần, có lần phải ôm cả tatami về phòng khách nhà thầy Đắc tập mấy tháng. Tới thời thầy Võ Đình Thanh, đạo đường đã phải chuyển đến 5 lần địa điểm. Ngay trong một trung tâm, đạo đường cũng phải đổi chỗ đến 3 lần. Vì không có chỗ “định cư”, cho dù thời đó một số người đã biết tiếng Aikido do những lần biểu diễn, diễn thuyết, nhiều môn sinh đã mất cả mấy tháng trời mới tìm được phòng tập, và sau đó mới tìm ra thầy như trường hợp HLV Nguyễn Vĩnh Hà. Việc xây dựng dojo khang trang, phát triển mạng lưới các đạo đường, duy trì họat ở một số địa điểm cố định thường xuyên luôn là thách thức cho Aikido Huế.
 |
|
Ảnh: Đạo đường Aikido Quảng Trị, do HLV Nguyễn Vĩnh Hà tự xây, tự dựng.
Từ bên trái hàng phía sau: Cô Minh Thư, thầy Thanh và HLV Vĩnh Hà, năm 2004 |
Sau khi thầy Đắc di cư, do sự thiếu hụt về con người, nên nếu thầy Thanh bận việc, võ đường đóng cửa. Thêm nữa, hồi đó, chẳng mấy ai biết Aikido là gì, sách báo, thông tin không bao nhiêu, người tập ít, do vậy việc truyền bá Aikido thường không được các cơ quan chức năng chú ý giúp đỡ. Trong một thời gian dài, võ đường hay Aikido Huế luôn được coi là một nhóm võ “nhỏ”, không quan trọng, do vậy nếu cần phải thu hẹp một họat động thì Aikido luôn được nằm vào danh sách “ưu tiên dẹp”, “không ảnh hưởng gì nhiều”. Sau 10 năm có mặt tại Huế từ 1990, đến năm 2000, Aikido mới được ngành TDTT tỉnh công nhận. Việc hình thành và phát triển uy tín tổ chức rất công phu, hiện tại Aikido đã có “thương hiệu” khá uy tín, việc duy trì phát triển nó tưởng chừng còn khó hơn, đó là nhiệm vụ hiện tại của các HLV Aikido ở Huế.
Trong bảng chương trình huấn luyện Aikido cũ để lại chỉ có các kỹ thuật Aikido mà chủ yếu là tên Nhật Bản. Tình thực nếu bảng đòn sai đúng thế nào cũng chẳng mấy ai hay. Tuy nhiên, việc nắm cho được danh xưng tiếng Nhật đã khó, nhưng việc còn khó và quan trọng hơn nhiều là việc chuyển được nghĩa, triết lý, diễn giải kỹ thuật ra triết lý ra ngôn ngữ Việt, gần gũi với đời sống hiện đại, đương thời. Việc chuyển tải nội dung, ngôn ngữ, triết lý và tinh thần của một môn võ, đậm bản sắc văn hóa Nhật vào Việt Nam là chuyện cực kỳ khó, các võ sư ở Huế mất một thời gian khá dài để hấp thu, chuyển tải, Việt Hóa các nội dung này. Cũng may mắn là hầu hết các anh HLV Aikido Huế đều là những người có trình độ ngoại ngữ, có trình độ văn hóa, chuyên môn khá cao, nhiều người có am hiểu về dịch lý, y lý, trung văn, luật pháp và chịu khó nghiên cứu tìm hiểu về văn hóa, triết học, do vậy việc chuyển đổi kiến thức trừu tượng của Aikido sang bài giảng cũng nhờ vậy thuận lợi hơn. Có điều! hiện tại tất cả các nội dung bài bản chưa được tài liệu hóa một cách có hệ thống, đó là điều cần và là nhiệm vụ của các anh HLV Aikido Huế hiện tại.
(Còn tiếp)