Xe chạy. Bầu trời tối đen. Gió biển thổi vù vù. Đường vắng người. Ánh sáng đèn điện lạnh lùng. Người ta chỉ cho tôi một cái nhà tranh thấp ở cạnh đường, nấp sau một bờ rào bông bụt kín.
 |
| Chân dung nhà thơ Hàn Mặc Tử. |
Không bao giờ tôi quên được cái gương mặt phù lên mà tôi trông thấy thấp thoáng dưới ánh đèn Hoa Kỳ leo lét. Chàng chưa ngủ và có lẽ suốt đêm cũng không ngủ được mấy tiếng đồng hồ. Đương nằm trên chiếc ghế mây dài-cái ghế độ nọ mà lâu nay chàng vẫn dùng làm giường-bạn tôi đứng dậy. chàng không đến bắt tay tôi như lần trước. Cái cảnh tịch mịch của đêm khuya trong cảnh nhà vắng vẻ, sự thay đổi hoàn toàn trong con người chàng đem lại cho tôi một cảm giác rùng rợn, lạnh buốt thấu xương. Chàng không ra khỏi chổ đứng, tuy rằng thấy tôi, chàng đã bắt đầu nói chuyện.
- Tôi còn hy vọng lành được. Có lần bệnh tôi như dã khỏi hẳn. Da thịt tôi trở nên hồng hào, tốt đẹp. Tôi đi dạo chơi suốt buổi chiều…
Rồi chàng cho tôi biết rằng chàng đến ở đây là vì người bà con với ông chủ cho chàng thuê nhà làm thầy thuốc chữa phung rất hay. Và nếu hôm ấy, tôi trông thấy bệnh của chàng có vẻ nặng là vì ông thầy thuốc ấy muốn làm cho phong bạt cả ra ngoài da để chữa cho dễ.
Lần nầy, đến thăm thi sĩ Hàn Mạc Tử, tôi đã dự định một ít câu hỏi như đi phỏng vấn vậy. Chàng đã cho tôi biết ý kiến riêng về các nhà thơ có tiếng lúc bấy giờ, về hiện trạng của thi ca Việt Nam, về sứ mạng của thi nhân, về thơ của chàng và về dự định của chàng nữa…
Nói đến thơ có khuynh hướng về tôn giáo, vẻ mặt của Hàn Mạc Tử hoạt động hẳn lên:
- Tôi dự định viết ra nhiều tập thơ về tôn giáo. Trong thi giới ta, chưa ai nghĩ đến việc đem truyện Sinh Nhật, truyện Phục Sinh… làm thi đề. Đó là những thi liệu không còn gì thi vị bằng.
Nhưng lần nầy, hình như tâm linh báo cho chàng biết trước rằng chàng không thể lành hẳn được nên trước khi tôi ra về thi sĩ bảo tôi:
- Anh ạ, nếu tôi lành được tôi sẽ thi hành những dự định ấy, tôi sẽ ở bên cạnh các anh, nhưng nếu Chúa gọi tôi về thì cũng phải vâng theo thánh ý Ngài.
Tôi từ giã Hàn Mạc Tử, trí não vơ vẩn nghĩ đến một lời của nhà thi sĩ có lẽ là cao quý hơn hết trong thi giới hiện thời, một lời mà thi sĩ thốt ra trong khi nói chuyện với tôi về việc làm thơ đạo hạnh:
- Bao giờ tôi cảm thấy mình đau đớn trong xác thịt và trong tâm hồn, và nhứt là tôi thấy mình bình tĩnh, trong sạch thì mới làm ra được những bài thơ đạo hạnh. Không phải lúc nào mình cũng làm được lối thơ ấy.
Một lần nữa, chúng ta thấy rằng thơ là hình ảnh của thi sĩ, hay đúng hơn, thơ là tâm hồn của thi sĩ rải rác trong vần điệu. Và vì thế, trước khi làm thơ thi sĩ còn phải làm “người”.
Mùa thu năm 1940, tôi ở trong một vùng quê thuộc miền Nam Trung kỳ. Một buổi sáng, tôi dở xem một tờ nhật báo ở Nam kỳ gởi lại. Trong mục chuyện vặt hằng ngày, tôi nhận được tin Hàn Mạc Tử từ trần tại nhà thương phung Qui Hòa.
Thì ra cuộc đến thăm lần ấy là lần thăm cuối cùng. Và cũng là cuộc tạm biệt giữa tôi và thi sĩ Hàn Mặc Tử ở dưới thế giới đau khổ nầy.
X
X X
Theo Bà Bửu Giảng (tức là Như Lễ, chị ruột của Hàn Mặc Tử) thì trong thời kỳ ở xóm Tấn lúc sau, khi bệnh tinh trở nên trầm trọng, Hàn Mặc Tử có làm thơ ca ngợi Chúa và Đức Mẹ. Theo bà thì những thơ nầy cất trong một rương với nhiều tài liệu khác về Hàn Mặc Tử để tại Gò Bồi trong những năm sau nầy. Năm 1951, mối đã ăn hết một phần các tài liệu quý hóa ấy.
Như Lễ nói có đọc những thơ sau nầy của Hàn Mặc Tử về Thiên Chúa và Đức Mẹ và bài thơ nầy không gởi cho ai cả, kể cả Quách Tấn là người mà trước kia, một ngày Hàn Mặc Tử viết một cái thư.
Trong cuộc tiếp xúc cuối cùng với Hàn Mặc Tử, cái nguyện vọng cuối cùng mà tôi ghi nhận trong lời nói thiết tha của chàng là được ca tụng những mầu nhiệm lớn lao của đạo Công Giáo trong thi ca của mình.
Bệnh tình của Hàn Mặc Tử có để cho chàng đủ thời gian đạt được cái nguyện vọng ấy không?